Thursday, May 21, 2009

Mùa

Lương Văn Can

Hàng Mã

Nhà Phan Chu Trinh, khi vẫn còn cái nhà Phan Chu Trinh ...

Ngõ gì đó trên phố Tôn Đức Thắng... 

Cao Bá Quát

Hàng Cân (?)

Hàng Ngang



Hàng Mã

Lãn Ông


Nắng

thanh thanh

Con chim xanh

có hót không anh?

Trước hiên nhà

vẫn lao xao bóng lá?

Có lũ trẻ

chơi nhảy lò cò?

Ngoài ngõ

có gánh gồng kĩu kịt

đồng nhôm dép rách sắt vụn bán đê…?

 

Phố

em và anh

hàng trà đá

còn om xòm rôm rả?

Cụ ông cụ bà

còn thong thả

bách bộ ra bờ hồ?

Có cô nàng

Đạp xe lóc cóc

Gió vẫn đùa váy áo bay tung?

  

Hạ

náo nức

có ai chờ?

Trước sân

có ai ngồi hong tóc?

Gánh hàng hoa

có ai mong?

Cửa sổ

có ai bày

tinh khôi một bình hoa cúc?

 

Gói lại ít mùa

Kẻo nắng mờ

Kẻo phố nhòa

Kẻo người xa lạc mất lối về...

Monday, May 18, 2009

Giản yếu về Phân tích phim - P.6

- bổ sung chú giải và link và... PG-13: Parents Strongly Cautioned: May contain moderate language, minimal strong language, some explicit nudity (Le Mépris), intense violence, gore, or mild drug content.


5. Điện ảnh hiện đại

Nếu như theo Gilles Deleuze (Hình ảnh-thời gian[1]), tính hiện đại của kỹ thuật điện ảnh bắt nguồn từ châu Âu thời hậu chiến, với chủ nghĩa tân-hiện thực Ý. Thảm họa chiến tranh, thiếu vắng hoàn toàn khả năng tài chính, khủng hoảng chính trị và tư tưởng: thế nghĩa là chứng kiến, là cho thấy thế giới đương đại trong thực tế. Cốt truyện không quan trọng bằng việc mô tả xã hội (kinh tế chậm phát triển, thất nghiệp, các vấn đề nông thôn, điều kiện sống của người già, phụ nữ và trẻ em). Chủ nghĩa tân-hiện thực nối lại với dòng tài liệu (thể loại này vẫn phát triển không ngừng, từ những cái nhìn đầu tiên của anh em nhà Lumière cho tới những phim pha trộn tài liệu Lacombe, Carné hay Vigo những năm 20, có cả người Anh góp mặt): quay ngoại cảnh, hình ảnh ít đối lập, dùng diễn viên không chuyên (công nhân, ngư dân, nông dân, v.v…), chủ đề mang tính xã hội, cốt chuyện lỏng lẻo, không có những pha hành động ly kỳ (các nhân vật trung tâm không phải là những người hùng, mà là trẻ em, người già, người thất nghiệp, những người thấp cổ bé họng).

Tuy nhiên, gần cuối những năm 50, tính hiện đại châu Âu trở nên phức tạp hơn dưới áp lực của nhiều yếu tố khác nhau: phát triển tâm lý (những nỗi lo của tập thể, của xã hội dành chỗ cho những vấn đề tâm lý học mang tính cá nhân hơn), phát triển kỹ thuật (sự tiến bộ khiến thiết bị ghi hình ảnh và âm thanh nhẹ hơn: máy quay 16 mm, máy ghi âm), ảnh hưởng của các ngành nghệ thuật khác (văn học, sân khấu), thay đổi môi trường kỹ thuật điện ảnh (nhà sản xuất và nhà làm phim độc lập hơn, ngân sách được giảm nhẹ, khâu quay phim tự do và linh hoạt hơn). Khái niệm tác giả bắt đầu xuất hiện và cho ra đời những tác phẩm càng ngày càng cá tính hơn (Fellini, Bergman, Truffaut). Dĩ nhiên, tính hiện đại châu Âu mượn cảm hứng từ các bậc tiền bối, những “người thầy” như là cách những nhà làm phim trẻ đã trân trọng gọi (Renoir, Rossellini), và đã được báo trước bởi những vị như Robert Bresson hay Jaques Tati.

So với hình mẫu cổ điển, phim hiện đại định tính bởi:

-       - những câu chuyện lỏng lẻo hơn, ít liên kết một cách có tổ chức hơn, ít kịch tính hơn, hay có những khoảnh khắc trống rỗng, những chỗ khuyết, những vấn đề không có giải pháp, kết thúc thường mở hoặc khó hiểu;

-       - những nhân vật được mô tả mờ nhạt hơn, luôn luôn khủng hoảng, (khủng hoảng đôi lứa, khủng hoảng tâm lý), ít thiên về hành động;

-        - những cách xử lý hình ảnh hay âm thanh xóa mờ ranh giới giữa chủ thể (nhân vật, tác giả) và khách thể (cái được thể hiện) : những giấc mơ, ảo giác, ảo ảnh, kỷ niệm được lồng vào không có chuyển cảnh phân biệt với các hình ảnh “hiện tại khách quan” (xem Fellini, Bergman, Carlos Saura, đều là hậu duệ của Buñuel) ; sự trộn lẫn phong cách tài liệu hay phóng sự với kiểu phim fiction cổ điển hơn (Rohmer, Godard) ; thủ thuật thời gian tạo ra những hiệu ứng khiến người xem lẫn lộn giữa hiện tại, quá khứ và thời gian ảo (Resnais);

-       - sự hiện diện rõ nét của tác giả, những giấu ấn về phong cách, về cách nhìn riêng đối với nhân vật và câu chuyện và tác giả kể: bình luận kể (voice over kiểu Truffaut), chuyển động máy, phong cách ngắt đột ngột (Godard), cảnh nhấn cận, trường cảnh tĩnh (Bergman, Eustache);

-       - hơi hướng thiên về tính phản xạ, nghĩa là nói đến chính mình ( đến chính điện ảnh, đến phim, đến trình diễn và nghệ thuật, đến những mối quan hệ giữa hình ảnh, tưởng tượng và hiện thực, đến sự sáng tạo) : xem 8 ½ [2](Fellini), La Nuit américaine[3] (Truffaut), L’État des choses [4](Wenders), Le Mépris [5](Godard), Profession: reporter[6] (Antonioni), The Travelling Players [7] (Angelopoulos). Fanny et Alexandre[8] (Bergman), và rất nhiều phim khác nữa. Đó là vì một thị hiếu nổi lên ưu ái những trích dẫn trực tiếp (phim trong phim) hay gián tiếp (những đoạn lấy cảm hứng từ những đoạn khác) và, với một số nhà làm phim, những tìm tòi về hình thái này là để tôn vinh chính nền điện ảnh (Antonioni, Godard).

Ở một vài khía cạnh ta thấy rằng tính hiện đại của những năm 60-70 cũng nằm trong dòng chảy lịch sử điện ảnh: nhiều điểm chung với trường phái ấn tượng những năm 20, tôn thờ điện ảnh kinh điển Hollywood, v.v… Nhưng nó cũng đồng thời gây ảnh hưởng tới điện ảnh hiện nay và những nhà làm phim Mỹ (Altman, Kubrick, Coppola, Scorsese).


Sự phối cảnh rất thô và thiếu sót này (ta có thể viết riêng một câu chuyện về DoF - độ sâu trường ảnh hay những những hình ảnh tâm thần trong điện ảnh) không có mục đích nào khác ngoài giúp các nhà phân tích nhạy cảm hơn với sự cần thiết đặt bộ phim vào trong quá trình phát triển các hình thái. Những nhà làm phim thừa hưởng, quan sát, thẩm thấu, dẫn lại, nhại lại, đạo lại, chuyển hướng, và hòa trộn những tác phẩm đi trước các tác phẩm của họ. Những yếu tố phim ảnh ta tưởng là đã lỗi thời, đã thuộc về quá khứ luôn được dùng lại (ví dụ như là dùng cache - khung che kính ảnh, iris – cửa điều sáng, thường trong phim câm, lại trở thành mốt trong những năm 60 trong thời kỳ Nouvelle Vague – Làn sóng mới Pháp), nhưng trong những bối cảnh khác nhau, các hình thái và các ý nghĩa luôn tự động được làm mới lại.

Nói cách khác, các hình thái điện ảnh hợp thành một thứ vốn văn hóa nơi những nhà sáng tạo tham khảo, và nhiệm vụ của người phân tích phim là làm sống lại những trào lưu chảy trong đó.



[1] Gilles Deleuze, L’Image-temps, Editions de Minuit, 1985

[2] 8 ½ , Federico Fellini, 1963: được 2 Oscar, 1 cho Costume Design và 1 cho Best Foreign Language Film. Phim nói về một đạo diễn điện ảnh. Tên phim này là số phim của bác Fellini: 6 features + 2 short (1/2 + 1/2 = 1) + ½ feature (Luci Del Varieta, 1950, chung với Alberto Lattuada) + cái này nữa = 8 ½ 

[3] Day for Night, François Truffaut, 1973: 1 Oscar cho Best Foreign Language Film. Bác Truffaut tự đóng một vai - Đạo diễn Ferrand, có một cảnh mở ra những sách đặt mua, toàn sách về các thần tượng của bác như là Godard, Bergman, Hitchcock, Bresson, v.v…

[4] Der Stand der Dinge (The State of Things), Wim Wenders, 1982: được giải Golden Lion – Venice Film Festival.

[5] Contempt (Khinh bỉ), Jean-Luc Godard, 1963: cast gồm Brigitte Bardot, Fritz Lang đóng (vai chính mình) và cả Godard (vai trợ lý của Fritz Lang). Phim dựa trên tiểu thuyết Il disprezzo của Alberto Moravia, được quay ngoại cảnh nhiều và gần với real-time.

[6] Professione: Reporter (The Passenger), Michelangelo Antonioni, 1975: Jack Nicholson trong vai David, một phóng viên truyền hình, tráo đổi ID với một thằng buôn bán vũ khí vừa chết trong một khách sạn ở Sahara, để xem đời có đáng sống hơn không.

[7] O thiasos, Theodoros Angelopoulos, 1975: Hy Lạp 1939 – 1952, Xung đột Fascism, Nazi, Communism thể hiện qua một nhóm lưu diễn kịch dân gian khắp Hy Lạp. Phim dài 230 phút nghĩa là gần 4 tiếng. The Guardian giải thích bác Angelopoulos này ít được biết tới là vì bác không chịu thỏa hiệp, trong khi phim bác rất chi trí tuệ, giàu xúc cảm và rất thơ mà không có sến. Cần phải xem để kiểm chứng!

[8] Fanny och Alexander, Ingmar Bergman, 1982: 4 Oscar trong đó có Best Cinematography và Best Foreign Language Film (Thụy Điển) Câu chuyện bi kịch gia đình đại loại bố kế - con (của) vợ, trong đó nhân vật widow tái giá này là leading lady của một nhà hát địa phương mà ông chồng chết trẻ là cố …giám đốc.

Saturday, May 16, 2009

IN THE SOUTH

by Salman Rushdie

The New Yorker - May 18 2009

The day that Junior fell down began like any other day: the explosion of heat rippling the air, the trumpeting sunlight, the traffic’s tidal surges, the prayer chants in the distance, the cheap film music rising from the floor below, the loud pelvic thrusts of an “item number” dancing across a neighbor’s TV, a child’s cry, a mother’s rebuke, unexplained laughter, scarlet expectorations, bicycles, the newly plaited hair of schoolgirls, the smell of strong sweet coffee, a green wing flashing in a tree. Senior and Junior, two very old men, opened their eyes in their bedrooms on the fourth floor of a sea-green building on a leafy lane, just out of sight of Elliot’s Beach, where, that evening, the young would congregate, as they always did, to perform the rites of youth, not far from the village of the fisherfolk, who had no time for such frivolity. The poor were puritans by night and day. As for the old, they had rites of their own and did not need to wait for evening. With the sun stabbing at them through their window blinds, the two old men struggled to their feet and lurched out onto their adjacent verandas, emerging at almost the same moment, like characters in an ancient tale, trapped in fateful coincidences, unable to escape the consequences of chance.

[...]

Friday, May 15, 2009

4 câu hỏi triết học làm …đau não :))


David Bain

lecturer in philosophy at the University of Glasgow 


 

Nhân một ngày gọi là ngày Triết học Thế giới của UNESCO (15 tháng 11 năm 2008 thì phải) – David Bain bèn gọi đó là cơ hội để săm soi chiêm nghiệm về sự rất chi tồn tại của bản thể (là mình) và về cái màn hình máy tính trước mặt (mình) liệu có tồn tại hay không.

Mọi người thường kỳ vọng trăm thứ bà rằng từ các triết gia. Một số nghĩ chúng tôi thông thái. Họ gặp tôi là tim tôi chùng xuống khi mà tôi biết tim họ cũng chùng tầm như vầy. Những người khác thì cho rằng chúng tôi phải có một nguồn dồi dào dự trữ những cách ngôn lúc nào cũng sẵn tuôn ra ví dụ như Yêu nghĩa là không bao giờ phải nói anh/em xin lỗi (cái mà chẳng có đồng nghiệp nào của tôi gật gù tán thành sất).

Những người này quá ư thất vọng khi gặp tôi, đặc biệt là khi tôi bảo là cái cốc vẫn được cả những kẻ lạc quan lẫn bi quan yêu thích luôn đầy một nửa và vơi một nửa.

Những người khác nữa thì trông đợi ở chúng tôi không phải sự thông minh mà sự điên, hoặc ít nhất là những niềm tin kỳ dị. Và chỗ này thì phải nói là một số triết gia thực sự cũng đã tỏ ra như vậy. Thales tin là mọi thứ được làm bằng nước, ví dụ thế, hay là Pythagoras thì không bao giờ ăn đậu đỗ vì ông tin là chúng có linh hồn.

David Lewis, triết gia xuất thân Princeton đã có lần nói: “Các triết gia thường lẽo đẽo theo đến chỗ nào có lý luận dẫn đường, quá thường xuyên họ bị dẫn tới những học thuyết không thể phân biệt được với mất trí tuyệt đối.”

Nhưng phải đề phòng. Cũng vẫn là David Lewis đó tin rằng với mỗi con đường trong những con đường mà đáng lẽ chuyện này chuyện kia phải diễn ra nhưng lại không diễn ra, có một thế giới mà trong đó mọi thứ phải như thế, ví dụ một thế giới nơi bản sao của bạn hôm nay đang ở bên vị chúa tể hay nữ thần tình dục đỉnh nhất trên toàn thế giới chẳng hạn. Và hoàn toàn có thể nghĩ rằng ít nhất nửa kia ấy cũng đang được vui vầy, cho dù những người bị choáng ngợp trước trí tuệ cao ngất trời của bác Lewis vẫn thường thấy những cái trò thế giới khác này nọ rất chi khó nuốt.

Không phải triết gia nào cũng tỏ rõ quan điểm kiểu trống giong cờ mở, nhưng có một lý do tử tế giải thích vì sao mọi người liên hệ chủ đề này với nhiều cách nhìn gây kinh ngạc. Triết học nghĩa là đứng lại phía sau và nghĩ – dữ dội và nghiêm khắc – về các khía cạnh của cuộc sống vừa bình thường vừa cơ bản của chúng ta.

Và khi bề mặt bị bới lên, cái bạn tìm thấy bên dưới thật là lạ thường – hoặc, đúng hơn là – khó một cách lạ thường để làm nó tốt, rõ và có nghĩa. Nằm thượt chờ đợi ở đó chính là các lý luận dẫn đường, nếu không phải là tới mất trí tuyệt đối thì sẽ tới những viên đạn mà chúng ta ghê tởm cắn vào (sự thực buộc phải chấp nhận)[1].

Vậy thì, nhân cái ngày Triết học thế giới này, đây là vài lý luận rất gây bực mình cho bạn động não:

 

1. CHÚNG TA CÓ NÊN GIẾT NGƯỜI KHỎE MẠNH ĐỂ LẤY NỘI TẠNG?

Giả sử Bill là một anh khỏe mạnh, không gia đình mà cũng chẳng có ai yêu. Có thể nào giết anh này không thương tiếc để lấy nội tạng đi cứu 5 người khác, một người cần tim, một người cần thận, cứ như thế như thế? Nếu không, thì tại sao không? Hãy xem xét một trường hợp khác: bạn và 6 người khác bị bắt cóc, và thằng bắt cóc bằng cách nào đó thuyết phục rằng nếu bạn bắn chết tươi một người trong số 5 người kia, thì hắn sẽ để 5 người còn lại tự do, còn nếu bạn không làm thì hắn sẽ bắt cả 6. (Đằng nào thì hắn cũng vẫn thả bạn.)

Nếu trong trường hợp này, bạn phải giết một để cứu 5, thì cái trường hợp nội tạng trên kia tại sao không được? Nếu trong vụ này bạn có tí dằn vặt nôn ọe thì lại xem xét một vụ nữa: bạn ở trong buồng lái của cái xe điện đang chạy và thấy 5 người khác bị trói trên đường ray phía trước. Bạn có thể chọn rẽ cái xe điện sang nhánh đường bên trái, nơi chỉ có 1 người bị trói thôi. Thể nào mà bạn chẳng rẽ trái để giết một cứu 5.

Thế tại sao lại không giết Bill?


2. BẠN CÒN LÀ NGƯỜI ĐÃ BẮT ĐẦU ĐỌC CÁI BÀI NÀY KHÔNG?

Hãy xem một bức ảnh của ai đó mà bạn nghĩ là bạn 8 năm về trước. Cái gì đã làm người này trở thành bạn bây giờ? Bạn có thể nói người đó là tổ hợp của cùng những tế bào bạn có bây giờ. Nhưng hầu hết các tế bào của bạn đều được thay thế 7 năm một lần. Bạn có thể cự lại bạn là một cơ thể sống, một con người, và rằng là các cơ thể sống vẫn cứ sống với vụ thay các tế bào – cái cây sồi này vẫn là cái cây sồi con mà tôi trồng năm ngoái đấy thây.

Nhưng bạn có thật sự hoàn toàn là một con người (human being) không? Nếu phẫu thuật đổi não Bush với não bạn, với cái ngoại hình Bush ấy, kẻ đang hồi phục sau phẫu thuật trong Nhà Trắng, có thể là bạn. Vậy thì có thể nói rằng bạn là một bộ não người thôi, có phải là một con người quái đâu.

Nhưng thế sao lại là não mà không phải là lá lách? Có thể bởi vì não hỗ trợ trạng thái trí óc bạn, ví dụ như niềm hy vọng, nỗi sợ hãi, các niềm tin, các giá trị, và trí nhớ. Nhưng có vẻ như thực ra là những trạng thái trí óc ấy mới đáng kể, chứ không phải là bộ não hỗ trợ gì gì ấy. Thế là quan điểm bây giờ là vụ phẫu thuật không cần phải cấy não bạn vào sọ Bush, mà đơn thuần scan rồi làm vệ sinh rồi in những trạng thái của nó vào não Bush đã lau rửa sạch sẽ, cái kẻ giống Bush đang hồi phục trong Nhà Trắng có thể lần nữa lại vẫn là bạn. Nhưng quan điểm này lại đối mặt với một vấn đề: sẽ thế nào nếu não bạn được in thành 2 bản lận trên 2 bộ não đã dọn sạch : một của Bush và một của Gordon Brown?

Bạn sẽ trong Nhà Trắng hay là ở Phố Downing? Chẳng có gì làm cơ sở cho một lựa chọn nào khôn ngoan. Rõ là một người làm sao mà ở 2 chỗ cùng lúc được.

Cuối cùng thì chẳng có cố gắng nào nối dài sự tồn tại của bạn vô tận có thể thành hiện thực. Bạn không phải là cái kẻ đã bắt đầu đọc cái bài này đâu. 


3. THỰC SỰ LÀ ĐANG CÓ MỘT CÁI MÀN HÌNH VI TÍNH NGAY TRƯỚC MẶT BẠN KHÔNG?

Cái gì làm bạn tin là có một cái màn hình vi tính ở trước mặt bạn? Cứ cho là bạn nhìn thấy, hay có vẻ thế. Nhưng các giác quan của chúng ta vẫn thường hay chỉ dẫn nhầm lẫn lắm. Một cái que thẳng nhúng một nửa vào trong nước trông như cong, 2 đoạn thẳng cùng độ dài nhìn như là dài ngắn khác nhau.

Nhưng cái này bạn có thể bảo là không chỉ ra được các giác quan không phải là không cung cấp những dữ liệu tốt để cảm nhận thế giới. Theo phép loại suy, ngay cả một cái phong vũ biểu không hoàn hảo cũng có thể cho bạn lý do để tin rằng trời sắp mưa.

Trước khi tin vào cái phong vũ biểu ấy, đằng nào bạn chẳng độc lập kiểm tra bằng cách đi ra ngoài xem trời có định mưa không khi cái phong vũ biểu nó bảo rằng sắp. Bạn bắt đầu tin cái phong vũ biểu đúng đến 99%. Từ đó, chắc chắn, các chỉ dẫn trên đó có thể đáng để tin rằng trời sắp mưa.

Có thể thế, nhưng phép loại suy thất bại. Bởi vì bạn không thể độc lập kiểm tra các giác quan của mình. Bạn không thể nhảy ùm ra ngoài kinh nghiệm từ các giác quan để kiểm tra xem chúng có nói chung là đáng tin hay không. Vậy là các giác quan không cho bạn lý do để tin cái màn hình máy tính đang ở trước mặt bạn.

 

4. CÓ ĐÚNG LÀ BẠN ĐÃ CHỌN ĐỌC CÁI BÀI NÀY KHÔNG?

Giả sử rằng bác Fred[2] tồn tại ngay sau vụ Big Bang. Bác có trí thông minh và trí nhớ không giới hạn, và biết mọi quy quật khoa học vận hành vũ trụ và tất cả các đặc tính của mọi yếu tố tồn tại sau đó.

Được trang bị như vậy, hàng tỷ năm trước, bác đã có thể giải quyết được những thực tế về vị trí và trạng thái của mọi yếu tố đang tồn tại hôm nay.

Và một khi cái thực tế đó đã được mặc định, thì cả cái thực tế là bạn đang đọc cái bài này cũng thế thôi. Không ai chối là bạn chọn đọc bài này. Nhưng lựa chọn của bạn là có nguyên nhân cả (một vài sự kiện xảy ra trong não bạn chẳng hạn), những nguyên nhân này đến lượt nó cũng lại có nguyên nhân, và cứ thế cứ thế ngược về đến tận Big Bang. Thế nghĩa là việc bạn đọc bài này là được bác Fred phán trước từ lâu lẩu lầu lâu trước khi bạn tồn tại. Một khi bạn đã tới đây, nghĩa là đã quá muộn để có thể thay đổi được gì.

Mà, tất nhiên, bác Fred không thực sự tồn tại, vậy thực ra bác chẳng phán từng việc của bạn. Nhưng vấn đề là: có thể có một bác Fred lắm chứ. Bạn sẽ phản đối rằng vật lý hiện đại cho ta thấy có một lượng sự bất định cơ bản nào đó trong vũ trụ, và cái này làm rối những lời phán của bác Fred. Nhưng có chắc không? Hãy để ý là trong cuộc sống thường nhật, chính xác là khi người ta làm gì đó không đoán trước được, chúng ta sẽ có đôi khi hỏi rằng họ có hành động thoải mái và có trách nhiệm hay không.

Vậy là sự tự nguyện bắt đầu trông không tương thích với phán quyết nhân quả lẫn sự bất định. Thế là không ai trong chúng ta làm gì thoải mái và có trách nhiệm cả.

 

KẾT LUẬN

Để tôi làm rõ điều này: vấn đề là tuyệt đối không phải bạn cũng chẳng phải tôi phải cắn những viên đạn này. Một vài triết gia lại thích thú đạn dược, nhưng ít người chấp nhận được những cái kết luận trên và rất nhiều người sẽ không đồng tình cái nào cả.

Nhưng vấn đề, khi bạn vứt một trong những kết luận đó đi, ấy là phải chẩn đoán phân tích chỗ nào cái lý luận nó bắt đầu sai.

Công việc này trong triết học gắn bó xoắn xuýt với mặt tổng hợp của chủ đề đang nói tới, với những giá trị đầy đủ đúng mực, chính xác và sáng tỏ về những khía cạnh chính trong sự tồn tại của chúng ta: sự tự nguyện, đạo đức, công lý, cái đẹp, ý thức, tri thức, sự thật, ý nghĩa, và nhiều nhiều nữa.

Điều này hiếm khi cho phép chúng ta đặt mọi thứ trở lại đúng nơi ta tìm thấy chúng. Có một vài điều ngạc nhiên, một vài viên đạn đã bị cắn; đôi khi vấn đề chỉ đơn giản là quyết định chọn viên nào. Nhưng ngay cả khi những khái niệm chung nhất của chúng ta sống sót với ít nhiều sứt mẻ thì hiểu biết cũng đã sâu sắc thêm. Như là TS Elliot có lần đã viết:

“…đoạn kết của chuyến thám hiểm,

sẽ là tới được xuất phát điểm,

và biết đến nơi ấy lần đầu tiên.”

 

 



[1] Bullets that we’re loathe to bite.

Bite the bullet: to make yourself do something or accept something difficult or unpleasant

Usage notes: When army doctors performed painful operations without drugs, they gave patients a bullet to put between their teeth. Có cả loại bullet chuyên dụng để cắn, có hẳn vị bạc hà.

Trong triết học bite the bullet nghĩa là taking a position with difficult consequences.

[2]  Fred Hoyle là tên cái bác astronomer có công bịa ra từ “Big Bang”

Tuesday, May 12, 2009

Chó

Bé Minh theo bố đi dạo chơi dưới hàng cây râm mát. Bỗng nhiên có 1 con chó lao tới sủa ầm ĩ, Minh sợ quá cố nấp vào sau lưng bố, bố liền động viên: 
- Đừng sợ con ạ thành ngữ có câu: "Chó sủa không cắn người" con biết không? 
Bé Minh vẫn tỏ ra sợ và nói: 
- Con biết rồi bố ạ, nhưng con chó đó có biết câu thành ngữ ấy không??

Version thêm:

Con chó bảo là: 
- Tao có biết chó đâu!

Ngày - Thơ thơ

Ngày

lê bước

đến bên thềm

ôm chân em

đung đưa buông thõng

Cây vắng gió

Áo em phơi vắng nắng

Nỗi buồn lõng bõng

Anh có về không?

 

Ngày

tựa vào em

nóng rực

nhức mỏi

đau nhói thịt da

Kiến đã bu đầy

hai chân

thôi đung đưa

buông thõng

Anh có về không?

 

Ngày

phập phồng

những gió

thổi tung lá cỏ

Em rình rập

tiếng chân

nghe buốt xót

bỗng từ đâu

len vào rất sâu

ăn mòn tế bào não bộ

Em đợi gì

nơi thềm nhà?

Anh có về không?


Ngày

thiếp ngủ

vùi mặt vào lòng em

buốt lạnh

sóng sánh trăng

Đêm

màu trắng

Trí nhớ

trắng

Chân buông thõng

trên thềm nhà

Anh có về không?