Showing posts with label Chris Marker. Show all posts
Showing posts with label Chris Marker. Show all posts

Monday, April 19, 2010

Không mặt trời - Có khi nào sẽ còn một bức thư cuối?


Sans Soleil (1985) - Chris Marker - P. cuối
Và ở chỗ này, 3 đứa trẻ từ Iceland của mình sẽ tới xen vào. Mình đã lấy lại trọn vẹn cảnh quay, thêm vào đoạn kết này một chút mờ ảo, khuôn hình chập chờn dưới sức gió quật vào bọn mình trên mỏm đá, mọi thứ mà mình cắt đi “cho sạch sẽ” có khi còn nói nhiều hơn cả những gì còn lại mà mình nhìn thấy vào giây phút ấy, vì sao mình lại giữ nó xa mình hết cỡ, zoom hết cỡ, cho tới tận phần 25 cuối cùng của giây… Thành phố Heimaey tan ra phía dưới bọn mình. Và 5 năm sau khi Haroun Tazieff gửi cho mình cái anh đã quay ở cùng chỗ đó, mình chỉ thiếu mỗi cái tên để hiểu ra rằng thiên nhiên đã tự làm lấy những lễ Dondo-yaki cho chính nó. Núi lửa của đảo đã thức dậy. Mình đã xem những hình ảnh này, và cứ như thể cả năm 65 vừa được bao phủ bởi tro tàn.
Vậy là chỉ phải đợi, và hành tinh sẽ tự mình vận hành Thời gian. Mình đã thấy lại nơi từng là cửa sổ của mình, thấy những mái nhà và những ban công quen thuộc, những mốc đường đi bộ mình đi hàng ngày qua thành phố, và xuống tận nơi mỏm đá nơi mình gặp lũ trẻ. Con mèo đi tất trắng mà Haroun có nhã ý ghi hình lại cho mình tất nhiên đã tìm thấy chỗ cho nó, và mình nghĩ là trong số tất cả những người cầu nguyện Thời gian, kẻ đã rải mốc suốt chuyến đi này, đúng nhất vẫn là người phụ nữ ở Gotokuji, người chỉ đơn giản nói với cô mèo Tora: Mèo yêu quý, cho dù con ở đâu, mong con an lành.
Và rồi chuyến đi, đến lượt chính nó bước vào trong Zone. Hayao đã cho mình xem những hình ảnh mốc thếch Thời gian, tự do thoát khỏi dối trá đã kéo dài sự tồn tại của những khoảnh khắc bị Vòng xoáy trôn ốc nuốt lấy.
Khi mùa xuân tới, khi từng con quạ báo hiệu cất những tiếng kêu nửa tông, mình lên đoàn tàu xanh tuyến Yamanote và xuống ga Tokyo, ngay cạnh bưu điện trung tâm. Dù phố xá có vắng tanh, mình vẫn đợi đèn đỏ - đúng kiểu Nhật – để dành chỗ cho những linh hồn ô tô bị tai nạn. Dù không đợi bức thư nào, mình vẫn dừng trước thùng thư, vì cần phải thành kính trước những linh hồn thư bị xé, và trước ô cửa dành cho thư hàng không, để chào những linh hồn thư không bao giờ được gửi. Mình đo sự phù du không chịu nổi của phương Tây chẳng bao giờ thôi ưu ái hữu vi hơn vô vi, hữu ngôn hơn vô ngôn. Mình đi bộ dọc những gian hàng bán quần áo. Mình nghe thấy từ xa giọng ông Akao dội lại từ các loa… cao hơn nửa tông. Rồi mình đi xuống hầm nơi bạn mình, một tay gàn, bận rộn với những graffiti điện tử. Cuối cùng ngôn ngữ của cậu ấy chạm tới mình, bởi cậu ấy nói với một phần trong ta nơi khăng khăng vẽ ra những nét nghiêng trên những bức tường nhà tù. Một mẩu phấn viền theo những đường viền của cái không có, hoặc thôi không còn, hoặc chưa có. Chữ viết tay mỗi chúng ta dùng để lập ra danh sách “những thứ làm tim ta đập nhanh”, để cho đi, hay để xóa. Đó là lúc thi ca được sáng tạo bởi mỗi người, và sẽ có cả đà điểu ở trong Zone nữa.”
Anh viết cho tôi từ Nhật Bản, anh viết cho tôi từ châu Phi. Anh viết cho tôi rằng bây giờ anh có thể tập trung nhìn vào gương mặt người phụ nữ ở chợ Praia mà hình ảnh lưu lại chỉ dài bằng đúng một frame hình.
Có khi nào sẽ còn một bức thư cuối?

Thursday, April 15, 2010

Không mặt trời - Ký ức


Sans Soleil (1985) - Chris Marker - P.10
Mỗi lần trở về từ châu Phi, anh đều dừng chân ở đảo Sal, nơi thực ra là một đảo đá muối giữa Đại Tây Dương. Ở cuối hòn đảo, vượt qua làng Santa Maria và khu nghĩa trang có những bia mộ sơn vẽ. Chỉ cần bước thẳng về phía trước là gặp sa mạc.
Anh viết cho tôi “Mình đã hiểu những ảo ảnh. Bỗng chốc, người ta ở trong sa mạc như đang ở trong đêm. Những gì không phải sa mạc bỗng không còn tồn tại. Những hình ảnh hiện ra ta không còn tin vào đó nữa.
Mình đã viết cho bạn rằng có những con đà điểu ở Ile-de-France chưa nhỉ? Cái tên Ile-de-France nghe có vẻ lạ lùng, trong Ile-de-Sal – Đảo Sal. Ký ức của mình chống chất lên 2 ngọn tháp: tháp của lâu đài đổ nát Montepilloy giam cầm Jeanne d’Arc, và tháp ngọn hải đăng ở cực nam đảo Sal, một trong những hải đăng cuối cùng còn chạy bằng dầu.
Ngọn hải đăng có mặt trong Sahel trông như một miếng cắt dán nếu không nhìn thấy biển, bên bờ cát và muối. Nhóm bay của những chuyến xuyên lục địa thay phiên ở Sal. Bọn họ mang lại cho nơi biên giới của vô vi này một nét chấm phá là khu resort bên bờ biển càng làm cho phần còn lại thêm không thực. Họ cho những con chó lang thang trên bãi biển ăn.
Mình thấy mấy con chó của mình đêm nay có vẻ bồn chồn, mình chưa bao giờ thấy chúng chơi với biển như thế. Sau đó mình hiểu ra khi nghe đài Hongkong: hôm ấy là ngày đầu năm mới âm lịch, và lần đầu sau 60 năm, cung Tuất và cung Thủy giao nhau.
Ở xa kia, cách 18.000 cây số, một bóng duy nhất dừng bất động giữ những bóng dài chuyển động khi ánh sáng tháng Giêng dạo bước trên đất Tokyo: bóng của nhà sư Asakusa.
Bởi năm Tuất cũng bắt đầu ở Nhật Bản. Những ngôi đền đầy chật khách đến ném tiền xu và cầu nguyện kiểu Nhật: một lời nguyện cầu trườn vào cuộc sống mà không làm nó gián đoạn.
Lạc nơi tận cùng thế giới, trên hòn đảo Sal của mình, đồng hành là mấy con chó nhảy cỡn lên, mình nhớ về tháng giêng ở Tokyo, hay đúng hơn là mình nhớ về những hình ảnh đã quay vào tháng giêng ở Tokyo. Chúng bây giờ đã thay thế cho ký ức mình. Chúng là ký ức của mình. Mình không rõ người ta làm thế nào nhớ được mọi việc, những người không quay phim, không chụp ảnh, không ghi âm… Loài người làm thế nào để nhớ nhỉ? Mình biết rồi: người ta viết Kinh Thánh. Kinh Tân ước, ấy là băng từ vô tận của thời gian sẽ không ngừng tự đọc lại để biết rằng mình đã tồn tại. Trong khi chúng ta đợi tới năm 4001 và ký ức trọn vẹn, đây là cái những lời tiên tri trong năm mới ta rút ra từ những chiếc hộp lục giác dài có thể hứa hẹn: Thêm một chút quyền lực với ký ức đi từ trạm này sang trạm khác, như Jeanne d’Arc, mà một tin sóng ngắn từ đài Hongkong bắt được trong một chương trình radio ở CapeVerde phát tới tới Tokyo, mà ký ức về một màu cụ thể trên một phố nảy lại trên một nước khác, một khoảng cách khác, một âm nhạc khác, bất tận.
Ở cuối con đường ký ức, chữ Ile-de-France viết thể biểu ý không kém phần bí ẩn hơn chữ Tokyo viết thể Kanji trong ánh sáng huyền diệu của năm mới. Hẳn là mùa đông Ấn Độ. Cứ như thể không khí là yếu tố đầu tiên thoát ra thanh khiết từ những nghi lễ không đếm xuể mà người Nhật dùng để tẩy uế năm cũ bước sang năm mới. Một tháng tròn chắc đủ cho họ hoàn thành các nhiệm vụ bởi lễ độ đối với Thời gian. Điều thú vị nhất là những gì thu được tại đền Tenjin thờ chim Uso, vị thần theo truyền thống sẽ ăn hết mọi lời dối trá trong năm tới, và theo một vị khác biến chúng thành lời nói thật.
Nhưng cái đã khoác cho phố phường màu sắc tháng Giêng ấy, cái đã khiến nó bỗng dưng thật khác chính là những tấm kimono. Trên phố, trong tiệm, trong văn phòng, ngay cả tại nơi giao dịch chứng khoán ngày mở cửa, những cô gái lấy ra những bộ kimono mùa đông có cổ lông. Thời điểm này trong năm, những người Nhật khác có thể phát minh ra tivi màn hình siêu phẳng, tự tử bằng cưa máy, hay chinh phục 2/3 thị trường sản phẩm bán dẫn thế giới. Tốt thôi: bạn chỉ nhìn thấy những cô gái này…
15 tháng 1 là ngày của tuổi 20, một lễ nghi bắt buộc trong cuộc đời một thiếu nữ Nhật Bản. Những nhân viên thành phố chia những gói nhỏ đầy quà, sách lịch, sách hướng dẫn: làm sao để trở thành một công dân tốt, một người mẹ tốt, một người vợ tốt. Trong ngày này, mọi thiếu nữ 20 tuổi đều có thể gọi về gia đình miễn phí dù ở bất cứ đâu trên đất Nhật. Công việc, gia đình, và tổ quốc: đây là phòng đợi của tuổi trưởng thành. Thế giới của những Takenodo và những ca sỹ rock rời xa như tên lửa. Các diễn giả giải thích xã hội đợi họ những gì. Phải mất bao nhiêu lâu mới quên đi được bí mật?
Và khi tất những hội hè kết thúc, chỉ còn lại việc thu nhặt những đồ trang trí, những phụ kiện của lễ hội, và đốt chúng lên thành một lễ hội.
Đây là Dondo-yaki. Một lễ shinto ban phép lành cho những gì còn sót lại, những gì có quyền được bất tử, như những con búp bê ở Ueno. Trạng thái cuối cùng trước khi biến mất trong tính cảm động của sự vật. Daruma linh hồn chột mắt ngự trên đỉnh ngọn lửa đốt rác. Việc từ bỏ cũng cần phải là một lễ hội, việc xé toang cũng cần phải là một lễ hội, việc vĩnh biệt tất cả những gì đã mất, đã hỏng, đã dùng, cần được tôn vinh bởi lễ nghi. Nhật mới là nơi toại nguyện ước mong của nhà văn Pháp de Montherlant muốn tổ chức ly dị như một lễ thánh. Thời khắc duy nhất gây hoang mang của tập tục này là vòng tròn các em nhỏ đập gậy xuống đất. Mình chỉ có duy nhất một cách giải thích – cho dù với mình cách này mang vẻ một nghi thức ấm cúng nho nhỏ: ấy là để đuổi chuột đi.

Friday, March 12, 2010

Không mặt trời - Cho tôi xin lỗi


Sans Soleil (1985) - Chris Marker - P.9
Ngày 15 tháng 5 năm 1945, 7 giờ sáng, trung đoàn bộ binh 382 Mỹ tấn công một quả đồi ở Okinawa mà họ tự đặt lại tên là “Dick Hill”. Mình cho rằng người Mỹ tưởng chiếm được đất Nhật, rằng họ chẳng biết gì về nền văn minh Ryukyu. Mình cũng thế, ngoài một điều là những gương mặt phụ nữ ngoài chợ ở Itoma nói với mình về Gauguin nhiều hơn cả về Utamaro. Suốt hàng thế kỷ làm phận chư hầu mơ mộng, Thời gian không trôi trên quần đảo này, sau rồi đổ vỡ. Sở hữu những hòn đảo để biến phụ nữ thành nơi ký thác các ký ức chăng? Mình hiểu ra rằng cũng như ở Bijago tri thức kỳ diệu được truyền qua những người đàn bà. Mỗi cộng đồng có một nữ tu, gọi là Noro, chủ trì mọi lễ nghi trừ đám ma. Người Nhật bảo vệ vị trí của họ từng inch một, đến cuối ngày, hai nửa trung đội gom góp lại của Đại đội L chỉ lên được tới nửa đồi. Một quả đồi như nơi mình đi theo một nhóm người làng tới lễ tẩy uế.
Noro giao tiếp với các vị thần biển, thần mưa, thần đất, thần lửa. Mọi người đều quí rạp trước Đức thánh-Chị - tuyệt đối là ánh phản chiếu của mối quan hệ ưu ái giữa người em trai và người chị gái. Ngay cả khi đã chết, người chị vẫn có ưu thế linh thiêng.
Bình minh lên người Mỹ rút quân. Cuộc chiến tiếp diễn thêm hơn một tháng nữa trước khi hòn đảo đầu hàng, và đổ nhào vào thế giới hiện đại. Hai mươi bảy năm dưới sự thâu tóm của người Mỹ, sự tái thiết vương quyền Nhật gây tranh cãi: 2 dặm cách những đường trượt bowling và những trạm xăng, Noro vẫn tiếp tục chuyện trò với các thánh thần. Sau bà, cuộc nói chuyện sẽ ngừng hẳn. Những người em trai sẽ không còn được biết rằng người chị gái đã khuất sẽ trôm nom họ.
Khi quay phim nghi lễ này mình biết là mình đang dự vào đoạn kết một điều gì đó. Những nền văn hóa kỳ diệu mất dần để lại các dấu vết cho những kẻ kế thừa. Nền văn hóa này thì không để lại cho ai nữa cả. Đổ vỡ trong lịch sử đã quá nặng nề. Mình đã chạm vào đổ vỡ ấy trên đỉnh đồi, cũng như mình đã chạm vào miệng hố nơi 200 cô gái đã dùng lựu đạn để tự sát còn hơn là sống qua tay người Mỹ. Người ta chụp ảnh trước hố. Đối diện nơi ấy có bán bật lửa lưu niệm mang hình lựu đạn.
Trên máy của Hayao chiến tranh giống như những bức thư bị đốt, rách ra trong lưỡi lửa. Mã tên của Trân Châu Cảng là Tora, Tora, Tora: tên của cô mèo đôi vợ chồng ở Gotokuji cầu nguyện. Vậy là mọi chuyện này bắt đầu bởi cái tên của một con mèo được đọc lên 3 lần.
Ngoài khơi Okinawa, những kamikaze tấn công hải quân Mỹ. Họ sau này đã trở thành huyền thoại. Họ rõ ràng sẵn sàng cho điều này tốt hơn những đơn vị đặc nhiệm đẩy những tù binh vào băng giá Manchuria rồi vào nước nóng để xem thịt rời khỏi xương nhanh đến mức nào. Cần phải đọc những bức thư cuối cùng mới biết được không phải mọi kamikaze đều tự nguyện, cũng không phải họ đều là những samurai cuồng tín. Trước khi uống chén sake cuối cùng, Ryoji Uebara đã viết: “Tôi luôn nghĩ rằng nước Nhật phải sống tự do để được sống vĩnh cửu. Hôm nay dưới một chế độ cực quyền mà nói như vậy nghe có vẻ ngu ngốc… Những kamikaze phi công chúng tôi là những cỗ máy, chúng tôi không có gì để nói, trừ việc van xin những nhà yêu nước của chúng tôi biến nước Nhật thành một nước lớn như chúng tôi hằng mơ. Trên máy bay tôi là một cỗ máy, một miếng kim loại có từ tính tự dán mình vào một hàng không mẫu hạm, nhưng một khi dưới đất tôi là một con người, với những tình cảm, với những đam mê… Hãy tha thứ cho tôi vì những suy nghĩ lộn xộn này. Tôi để lại cho mọi người một hình ảnh ưu tư về mình, nhưng sâu thẳm bên trong tôi hạnh phúc. Tôi đã nói chân thành. Cho tôi xin lỗi.”

To be continued

Friday, February 26, 2010

Không mặt trời - Vertigo


Sans Soleil (1985) - Chris Marker - P.8
Anh viết cho tôi về một bộ phim duy nhất có khả năng vẽ chân dung thứ ký ức bất khả - ký ức điên. Một bộ phim của Hitchcock: Vertigo – Chóng mặt. Trong vòng xoáy phần giới thiệu phim, anh thấy Thời gian bao phủ một vùng ngày càng rộng hơn khi nó lùi ra xa, một cái xoáy có phút chốc hiện tại nén lại, bất động, con mắt… Ở San Francisco anh đã hành hương về tất cả những hiện trường quay của phim: cửa hàng hoa Podesta Baldocchi, nơi James Stewart theo dõi Kim Novak. Anh ta là tay thợ săn, nàng là con mồi – hay là ngược lại nhỉ? Gạch lát sàn không đổi. Anh ta đã chạy xe suốt những con đồi San Francisco nơi James Stewart theo đuổi Kim Novak – Madeline. Có vẻ như đấy là trinh thám, bí hiểm, án mạng – nhưng thực ra đấy là về quyền lực và tự do, về phiền muộn và lóa mắt, được mã hóa rất cẩn thận trong những vòng xoáy mà ta có thể lầm lẫn, và không phát hiện ra ngay lập tức thực tế cái chóng mặt bởi không gian chính là cái chóng mặt của thời gian. Anh ta đã lần theo mọi dấu vết, cho tới tận khu nghĩa địa ở Mission Dolores nơi Madeline tới cầu nguyện trên nấm mồ một người phụ nữ chết đã lâu mà có lẽ nàng chưa từng quen biết. Anh ta đã theo đuổi Madeline – như là Scottie đã từng làm, tới bảo tàng Bắc đẩu Bội tinh (Legion of honor), phía trước chân dung một người phụ nữ đã chết mà hẳn nàng cũng chưa từng quen biết. Và trên bức chân dung, cũng như trên tóc Madeline, là vòng xoáy thời gian.
Khách sạn nhỏ thời Victoria nơi Madeline biến mất bản thân nó cũng đã biến mất. Bê-tông đã thay vào đấy, trong góc giữa Eddy và Gough. Ngược lại, khúc cây tùng vẫn còn ở Muir Woods. Trên đó Madeline đã vạch dấu khoảng cách ngắn ngủi giữa 2 đường đồng tâm đo tuổi của cây và nói, “Tôi ra đời ở đây… và đã chết ở đây.” Anh nhớ về một bộ phim khác mà đoạn này cũng được nhắc lại: cây tùng đó là cái cây ở trong Vườn Thực vật ở Paris, và bàn tay chỉ một điểm phía ngoài thân cây – ở phía ngoài thời gian.
Con ngựa vẽ ở San Juan Bautista, mắt nó trông giống như mắt Madeline: Hitchcock không phát minh ra cái gì cả, mọi thứ đã sẵn đấy rồi. Anh ta chạy dưới những mái vòm lối đi như là Madeline chạy về phía cái chết – Mà có đúng là cái chết của nàng không? Từ cái tháp giả này – thứ duy nhất Hitchcock thêm vào – ông tưởng tượng Scottie chìm đắm trong điên cuồng của tình yêu, thấy không thể sống nổi với ký ức mà không xuyên tạc nó, phát minh ra một bản thể khác của Madeline trong một chiều thời gian khác, một Zone có lẽ chỉ thuộc về ông, nơi mà ông có thể giải mã câu chuyện không thể giải mã bắt đầu từ cầu Cổng Vàng khi anh ta kéo nàng lên từ vịnh San Francisco, khi anh ra cứu nàng thoát chết trước khi ném nàng trở lại với cái chết – hay là ngược lại nhỉ?
Ở San Francisco mình đã “hành hương” về với bộ phim đã từng xem 19 lần. Ở Iceland mình đặt viên gạch đầu tiên cho bộ phim tưởng tượng. Mùa hè ấy mình gặp ba đứa trẻ trên đường và một ngọn núi lửa vừa phun trào từ biển. Lại một vụ sắp đặt… Những phi hành gia Mỹ vừa mới tập luyện trước khi lên Mặt Trăng trong góc này Trái đất nơi có vẻ tương đồng, mình thấy ngay một décor khoa học viễn tưởng, phong cảnh một hành tinh khác – à mà không, đó là hành tinh của chính chúng ta đối với ai đó đến từ đâu đó rất xa. Mình tưởng tượng anh ta bước tới trên mặt đất núi lửa dính nơi gót giày, với một vẻ nặng nề của anh thợ lặn. Bỗng nhiên anh ta sẩy chân, và bước tiếp theo đã là một năm sau, anh ta bước trên một lối mòn gần biên giới Hà Lan, dọc theo một khu bảo tồn chim biển.
Điểm khởi đầu là như thế. Nhưng vì sao lại có khoảng hụt thời gian ấy, mối liên hệ ký ức ấy? Là thế đấy, không thể hiểu nổi. Anh ta không đến từ một hành tinh khác, mà đến từ tương lai. 4001, thời điểm não người đã được sử dụng trọn vẹn. Tất cả hoạt động hoàn hảo, mọi thứ chúng ta đều có thể cho ngủ đi được, thậm chí cả trí nhớ. Kết quả logic: một trí nhớ trọn vẹn là một trí nhớ được gây mê. Sau nhiều câu chuyện về những người mất trí nhớ, đây là chuyện về một người mất khả năng quên… - và nhờ một bản năng lạ lùng, thay vì tự hào về điều đó và khinh khi nhân loại trong quá khứ đen tối, kẻ này lại trở nên tò mò, và rồi đầy lòng trắc ẩn. Trong thế giới nơi anh ta tới, gợi một ký ức, xúc động trước một chân dung, rung cảm với âm nhạc chỉ còn là những dấu hiệu của một thời tiền sử dài và nhức nhối. Anh ta muốn hiểu. Những tật nguyền của thời gian, anh thấy chúng là một sự bất công, và với sự bất công ấy anh phản ứng như Che, như người trẻ những năm 60, với lòng phẫn nộ. Anh là người thuộc Thế giới thứ ba của thời gian. Ý tưởng về nỗi bất hạnh đã từng tồn tại trong quá khứ trên hành tinh mình khiến anh ta không chịu nổi, cũng như đói nghèo tồn tại trong thời của họ đối với họ (những người trẻ).
Anh ta hiển nhiên sẽ thất bại. Nỗi bất hạnh anh ta tìm ra không tác động tới anh cũng như đói khổ ở một nước nghèo là điều không hình dung nổi đối với trẻ em ở một nước giàu. Anh ta đã chọn rời bỏ những đặc quyền của mình, nhưng không từ bỏ đặc quyền là được chọn. Điểm tựa duy nhất cho anh ta chính xác là cái đã ném anh vào cuộc tìm kiếm phi lý này: một chùm nhạc của Mussorgsky. Những bài hát vẫn được hát trong thế kỷ 40. Ý nghĩa của chúng đã không còn, nhưng đó là lần đầu tiên anh ta nhận ra được sự có mặt của điều anh ta không hiểu, điều liên quan tới nỗi bất hạnh và ký ức mà anh ta phải hiểu cho bằng được, và về phía ấy anh bắt đầu bước chậm chạp và nặng nề.
Tất nhiên là mình sẽ chẳng bao giờ làm bộ phim ấy. Nhưng mình nhặt nhạnh những décor cho nó, nghĩ ra cho nó những bước ngoặt, đặt vào trong đó những tạo vật yêu thích, mà mình còn nghĩ cho nó cả một cái tên nữa, đó là những giai điệu của Mussorgsky: Không mặt trời.

To be continued...

Wednesday, February 24, 2010

Không mặt trời - Nỗi khiếp sợ. Nó có mặt và có tên.


Sans Soleil (1985) - Chris Marker - P.7
Anh viết cho tôi: “Ở tận cuối những khu chợ thiết bị điện tử mà những cô nàng quá khích dùng làm đồ trang sức, trong bản nhạc Tokyo có một thứ đặc biệt mà sự hiếm hoi ở châu Âu kết buộc mình án lưu đày âm thanh thực: đó là nhạc của những trò chơi điện tử.
Họ được chạm khảm hẳn vào bàn, ta có thể uống, ta thể ăn trong khi vẫn đang chơi. Họ mở ra về mặt phố. Khi nghe họ ta có thể chơi trong trí nhớ.
Mình đã thấy những trò chơi này ra đời ở Nhật. Rồi mình gặp lại chúng khắp nơi trên thế giới, nhưng có một chi tiết khác: từ đầu đấy là một trò chơi nối tiếng: một loại chiến đấu phản sinh thái học mà người chơi phải giết ngay khi ló ra đầu của những tạo vật mà mình chưa xác định được ấy là những con chuột đồng hay là những chú hải cẩu con. Bây giờ đến lượt những khác biệt Nhật Bản: thay vào những con thú là những cái đầu người lờ mờ được xác định bằng một miếng étiquette. Trên đỉnh là Chủ tịch – tổng giám đốc. Trước ông này là phó chủ tịch và các giám đốc. Ở hàng đầu là những trưởng bộ phận và giám đốc nhân sự. Anh chàng mà mình quay phim này đập tới tấp những thứ bậc này với một năng lượng đáng ghen tị cho mình thấy rằng trò chơi này với cậu ta hoàn toàn không phải là phúng dụ, rằng cậu ta có những suy nghĩ rất rõ ràng về những cấp trên này của mình. Vậy hiển nhiên vì sao mà con rối đại diện cho vị giám đốc nhân sự thường xuyên bị đập mạnh đến nỗi nó nó không dùng được nữa, và người ta phải thay một con hải cẩu con vào đấy.
Hayo Yanianeko phát minh ra trò chơi điện tử với cái máy riêng. Để làm mình vui, anh bỏ vào đó những con vật mình yêu nhất: con mèo và con cú.
Anh chắc rằng chất liệu điện tử là thứ duy nhất có thể xử lý được tình cảm, ký ức và trí tưởng tượng.
Arsen Lupin của Mizoguchi, ví dụ thế, hay là Burakumin không kém phần giàu tưởng tượng hơn. Làm thế nào có thể khẳng định giới thiệu một loại người Nhật không tồn tại. Có, họ ở đó, mình đã thấy họ ở Osaka bán thân làm thuê ban ngày và ngủ ngay trên đất, từ thời Trung Cổ họ đã phải nai lưng làm những công việc bạc bẽo bẩn thỉu không ra gì, nhưng từ thời Minh Trị không có gì chính thức phân biệt đối xử họ, và tên thực sự của họ, những Eta, là một từ kiêng kị không được đọc lên. Họ là những phi-nhân (non-persons), làm sao mà thấy được họ, ngoại trừ bằng những phi-hình ảnh?
Những trò chơi điện tử là những bậc đầu tiên trong một kế hoạch máy móc hỗ trợ nhân loại, kế hoạch duy nhất dành cho trí thông minh một tương lai. Hiện giờ, triết học chưa vượt qua được của thời đại chúng ta được chứa đựng trong Pac-Man. Mình không biết là hy sinh những tờ 100 yên cho anh có làm anh thu phục được thế giới không. Có thể, bởi vì ang là ẩn dụ hình họa hoàn hảo nhất về số phận con người. Anh có thái độ đúng đắn trong những quan hệ quyền lực giữa cá nhân và môi trường, và anh báo cho chúng ta biết một cách giản dị rằng cho dù có một niềm vinh dự dành cho con số lớn nhất những cuộc tấn công thắng lợi, thì cuối cùng vẫn luôn luôn là một kết cục rất tệ.
Anh luôn hài lòng thấy cùng những bông cúc thược dược ấy xuất hiện trong những đám tang của người lẫn của thú. Anh tả cho tôi nghe về lễ tưởng niệm tổ chức tại sở thú ở Ueno dàng cho các con thú đã chết trong năm qua. Trong hai năm liền ngày than khóc này phủ thêm màu tang tóc bởi cái chết của một con panda – Còn nặng nề – theo báo chí – hơn cả cái chết của vị thủ tướng cũng xảy ra đồng thời. Năm ngoái người ta khóc rất nhiều. Giờ có vẻ như họ đã quen dần, chấp nhận việc mỗi năm cái chết cướp đi một con panda như là rồng mang đi những cô gái trẻ trong truyện cổ tích. Mình nghe thấy câu này: “Vách ngăn chia cắt cuộc sống với cái chết với chúng tôi không dày như là với người phương Tây.” Điều mình thường đọc thấy nhất trong mắt những người sắp chết là sự ngạc nhiên. Điều mình đang đọc được bây giờ trong mắt những trẻ em Nhật Bản là sự tò mò. Cứ như thể chúng đang cố - cốt để hiểu cái chết của một con vật – là nhìn chằm chằm xuyên qua cái vách ngăn kia.
“Mình trở về từ một đất nước nơi cái chết không phải là vách ngăn để bước qua mà là một con đường để đi tới. Cụ tổ của người Bijago đã tả cho chúng ta hành trình của những người chết, và làm thế nào họ đi từ đảo này sang đảo nọ theo một nghi thức nghiêm cẩn cho tới bờ biển cuối cùng, nơi họ đợi con tàu để tới thế giới bên kia. Nếu tình cờ ta gặp họ, điều tối quan trọng là không được nhận ra họ.
Những người Bijago là một phần của Guinea-Bissau. Trong một tài liệu cũ, Amilcar Cabral vẫy chào vĩnh biệt bờ biển – ông ta có lý, ông mãi mãi không bao giờ trở lại nơi này. Luís Cabral đã vẫy y như vậy 15 năm sau trên một chiếc ca nô mang chúng tôi trở lại. Guinea khi ấy đã trở thành một quốc gia và Luís là chủ tịch nước. Tất cả những người còn nhớ về chiến tranh đều nhớ về ông. Ông một nửa là em trai của Amilcar, sinh ra với hai dòng máu Guinea và Cape Verde, và ông là thành viên sáng lập của đảng PAIGC (Đảng châu Phi cho độc lập của Guinea và Cape Verde), một đảng kỳ lạ, đã thống nhất hai đất nước bị đô hộ trong một phong trào đấu tranh duy nhất, ông mong muốn trở thành người báo trước về một liên hiệp hai quốc gia. Mình đã nghe câu chuyện này từ những cựu chiến binh quân nổi dậy, những người đã chiến đấu trong những điều kiện phi nhân tính tới mức họ thương hại những người lính Bồ Đào Nha đã phải chịu những gì chính họ cũng phải chịu. Mình được nghe chuyện này, cùng với rất nhiều nhưng điều khác gây xấu hổ những ai đã dùng quá dễ dàng – cho dù là một lần, và do bất cẩn – từ “quân nổi dậy” (guerilla) để chỉ một phong cách làm phim nào đó… Một từ vào thời gian đó dính dáng tới rất nhiều những cuộc tranh cãi lý luận, và còn cả tới những chiến thắng xương máu trên mặt đất nữa.
Amilcar Cabral là người duy nhất dẫn dắt một cuộc chiến tranh nổi dạy thắng lợi, và không chỉ với nghĩa tiến công quân sự. Ông biết dân tộc ông, ông đã nghiên cứu về họ một thời gian dài, và ông muốn mỗi vùng được giải phóng trở thành tiên phong cho một kiểu xã hội khác. Những quốc gia xã hội biết phải phải trang bị cho binh lính bằng gì. Những nước dân chủ xã hội biết phải chất đầy các cửa hàng của dân bằng gì. Có thể cánh cực tả tha thứ cho lịch sử nhưng nếu quân nổi dậy như cá trong nước, ấy gần như là nhờ có Thụy Điển. Amilcar không sợ những cái khó hiểu, và ông biết cả những cái bẫy. Ông viết: Người ta nói rằng chúng tôi đứng trước một dòng sông lớn đầy sóng gió và bão tố, có những người cố vượt qua và những người chết chìm, nhưng họ không có lựa chọn nào khác ngoài sang bờ bên kia…
Và bây giờ chuyển cảnh sang Cassaca, ngày 17 tháng 2 năm 1980 – nhưng để hiểu đúng về nó cần phải đẩy nhanh thời gian lên nữa: một năm sau, chủ tịch nước Luís Cabral sẽ bị vào tù, và kẻ khóc lóc mà ông vừa trao tặng huy chương, tư lệnh Nino, sẽ lên nắm quyền. Đảng sẽ tan vỡ, những người Guinea và những người Cape Verde chia rẽ sẽ tranh giành nhau di sản của Amilcar. Người ta sẽ học được rằng phía sau buổi lễ thăng chức này, trong mắt những vị khách mời đọng lại mãi tình đồng chí trong cuộc chiến đấu, còn có sâu thẳm một nỗi cay đắng của những ngày sau chiến thắng, rằng những giọt nước mắt của Nino không nói lên cảm xúc của một cựu chiến binh, mà là nỗi kiêu hãnh bị tổn thương của người hùng không được nâng cao đủ để vượt lên trên những người khác. Và dưới mỗi gương mặt này có một ký ức. Và ở đó nơi họ muốn làm ta tin vào một ký ức tập hợp được tạo ra, hàng ngàn ký ức của những con người đã diễu hành vết thương riêng của mình trong viết thương lớn của Lịch sử… Ở Bồ Đào Nha, do phần Bissau ào ào dồn dập, tới lượt Miguel Torga, người đã đấu tranh cả cuộc đời chống lại sự độc tài đã viết: Mỗi nhân vật chỉ đại diện cho chính mình… Thay vì một sự thay đổi toàn xã hội, anh ta chỉ đơn giản là tìm kiếm trong hoạt động cách mạng sự thăng hoa của hình ảnh chính mình… Nói chung, đó cũng như là những cơn sóng cồn lại đổ ập xuống, và bằng một cách nhìn rõ trước được đến mức cần phải tin vào một chứng bệnh quên của tương lai mà Lịch sử phân phối qua lòng nhân từ hoặc qua tính toán cho kẻ mà nó tuyển mộ. Amilcar bị ám sát bởi chính một thành viên trong đảng của ông, những vùng được giải phóng bị rơi vào ách của những kẻ bạo chúa tiểu nhân khát máu, đến lượt chúng bị thanh toán bởi quyền lực trung tâm mà tất cả sẽ ca tụng sự vững vàng cho tới một cuộc đảo chính có vũ trang… Lịch sử vừa tiến lên như vậy, vừa nút lại ký ức như người ta nút hai tai. Luís lưu vong sang Cuba, Nino đến lượt mình khám phá ra âm mưu ngấm ngầm chống lại mình, họ có thể sẽ luôn được dẫn ra trước lịch sử, lịch sử không hiểu gì, nó chỉ có một đồng minh duy nhất, kẻ mà Brando đã nhắc tới trong Apocalypse Now: Nỗi khiếp sợ. Nó có mặt và có tên.
Mình đang viết cho bạn từ một thế giới khác, một thế giới của bề ngoài. Bằng một cách nào đó, hai thế giới giao tiếp với nhau. Ký ức đối với bên này là Lịch sử đối với bên kia. Một sự bất khả. Những huyền thoại sinh ra từ nhu cầu giải mã cái bất khả giải mã. Những ký ức cần phải hài lòng với hoang tưởng, với lệch pha của chúng. Một thời khắc dừng lại có thể cháy như một tấm phim bị giữ lại trước lò đốt của máy chiếu phim[1]. Sự điên cuồng chống chọi hay cơn sốt cũng vậy. Mình ghen tị với Hayao và Zone của anh ấy. Anh chơi với những ký hiệu của ký ức, anh ghim chúng xuống và trang trí chúng như những con côn trùng có lẽ đã từng bay trong thời gian và anh có thể lặng ngắm từ một điểm phía bên ngoài thời gian – cái vĩnh hằng duy nhất còn lại với chúng ta. Mình nhìn những cái máy của anh ấy, mình nghĩ tới một thế giới nơi mỗi ký ức có thể tự tạo nên một huyền thoại riêng của mình.”



[1] Những máy chiếu phim cổ có bộ phận carbon arc lamp gọi là lò đốt - nguồn sáng - có miệng lò nơi từng khuôn hình phim đi qua - http://einhornpress.com/hazard.aspx

Sunday, January 24, 2010

Không mặt trời - P.6


Sans Soleil (1985) - Chris Marker - P.6
Tuổi trẻ cuối tuần nào cũng tụ tập tại Shinjuku biết mười mươi rằng họ không ở trên một bệ phóng vào cuộc sống thực, rằng chính họ là một cuộc sống, để mà ăn ngay lập tức như là những quả lý chua. Ấy là một bí mật rất đơn giản, người già cố ngụy trang nó, người trẻ không biết tới nó. Bé gái mười tuổi đã quẳng cô bạn học mình từ 13 tầng cao xuống sau khi trói tay bạn lại, bởi vì bạn đã nói xấu lớp mình, và còn chưa kịp hiểu ra điều ấy. Các bậc cha mẹ - những vị yêu cầu mở rộng đường dây điện thoại đặc biệt báo trước những vụ tự sát trẻ vị thành niên phát hiện ra hơi muộn rằng họ đã giấu diếm chuyện này quá kỹ. Rock là một ngôn ngữ quốc tế lan truyền đi bí mật này. Một ngôn ngữ khác dành riêng cho Tokyo…
Đối với những Takenodo, hai mươi là tuổi về vườn. Chúng là những đứa bé Sao Hỏa. Mình đến xem chúng nhảy các chủ nhật ở công viên Yoyogi. Chúng tìm cách gây sự chú ý, mà chúng không có vẻ chú ý là người ta đang chú ý tới chúng. Chúng đang ở trong thời gian song hành, một bức tường kính bể cá vô hình ngăn chúng với đám đông chúng đang hút tới, và mình có thể bỏ cả chiều ngắm nghía cô takenoko bé đang học, hẳn là lần đầu tiên trong đời, những phong tục của hành tinh nó.
Mặt khác, chúng có những tín hiệu nhận dạng riêng, chúng nghe theo những tiếng huýt còi, Mafia ốp chúng, và trừ một nhóm toàn là con gái ra, bao giờ cũng là một cậu con trai điều khiển.
Một hôm, anh viết cho tôi: “Mô tả về một giấc mơ… Càng ngày những giấc mơ của mình càng có kiểu bài trí giống với những những khu thương mại ở Tokyo, những cửa hàng dưới lòng đất trải dài chúng ra và song song với thành phố. Một gương mặt hiện ra, biến đi, một dấu vết tìm thấy, lạc mất, mọi văn hóa dân gian của những giấc mơ ở đúng chỗ của chúng đến mức mà hôm sau khi tỉnh dậy, mình nhận ra chính mình đang tìm kiếm trong mê cung tầng ngầm sự hiện diện giấu kín của đêm trước. Mình bắt đầu băn khoăn nếu những giấc mơ ấy thật là của mình, hoặc nếu chúng là một phần của tổng thể, một giấc mơ tổng hợp khổng lồ về cái mà trong đó toàn thành phố có thể là màn ảnh lớn. Có thể chỉ nhấc bất cứ máy điện thoại nào nằm xung quanh lên để nghe một giọng thân quen, hay một tiếng tim đập, như đoạn cuối của “Những người khách đêm” – hay ví dụ như của nàng Sei Shonagon chẳng hạn cũng đủ. Các cửa hàng đều dẫn tới những ga tàu, cùng những công ty sở hữu các khu thương mại và đường sắt cũng mang tên họ, Keio, Odakyu, những cái tên cửa ô. Con tàu toàn những người ngủ tập hợp các mảnh của giấc mơ, tạo ra một bộ phim duy nhất, bộ phim tuyệt đối. Những tấm vé từ máy bán tự động trở thành những tấm vé vào.”
Anh nói với tôi về ánh sáng tháng giêng trên những bậc cầu thang nhà ga. Anh nói với tôi rằng thành phố này phải được giải mã như một bản nhạc. Người ta có thể bị lạc trong những đám đông hòa tấu và tích tụ những chi tiết, và việc đó mang lại hình ảnh rẻ rúng về Tokyo: quá đông dân, hoang tưởng tự đại, phi nhân tính. Anh tin là đã thấy nhiều những lớp tinh tế hơn, những nhịp điệu, những gương mặt bắt gặp thoáng qua – như những nhạc cụ rõ ràng và khác nhau. Có đôi khi sự so sánh mang tính nhạc này trùng hợp với thực tế ở một điểm rất đơn giản: cầu thang Sony ở Ginza chính nó là một nhạc cụ, mỗi bậc là một nốt nhạc. Tất cả những cái đó hợp lại với nhau như là các giọng của một đoạn fugue có phần phức tạp, nhưng cũng đủ để níu giữ một giọng và không buông: ví dụ như những màn hình tivi chẳng hạn, tự chúng chúng vẽ ra một hành trình mà đôi khi tự khép lại trong những búi không lường trước được. Đó là mùa Sumo, và những nhà nghiệp dư đến xem các trận đấu trong những showroom rất sang ở Ginza chính là những kẻ nghèo nhất Tokyo, nghèo đến độ không có TV mà xem… Anh thấy họ đến, những linh hồn chết của Namida-bashi, anh đã uống saké với họ trong một buổi bình minh nắng lên, vậy là đã bao mùa qua rồi?
To be continued...

Wednesday, January 20, 2010

Không mặt trời - lịch sử cũng chỉ có vị đắng với những ai trông đợi nó được bọc đường


Sans Soleil (1985) - Chris Marker - P.5
Anh viết cho tôi rằng những thước phim về Guinea-Bissau cần phải được kèm thêm âm nhạc của đảo Cape Verde. Đó có thể là đóng góp của chúng ta cho nền thống nhất mà Amilcar Cabral vẫn hằng mơ.
Vì sao một đất nước nhỏ đến thế - và nghèo đến thế - lại hấp dẫn thế giới? Họ làm điều họ có thể, họ giành tự do lại cho mình, họ đánh đuổi những người Bồ Đào Nha. Họ gây sốc cho quân đội Bồ Đào Nha sâu sắc tới mức nổi lên thành một phong trào lật đổ chế độ độc tài, và khiến người ta trong một lúc tin vào một cuộc cách mạng mới ở châu Âu.
Ai nhớ được tất cả những chuyện đó? Lịch sử quăng những cái trai rỗng của mình ra ngoài cửa sổ.
Sáng nay mình ở trên bến cảng Pidjiguiti, nơi mọi chuyện bắt đầu năm 1959, khi những nạn nhân đầu tiên của cuộc đấu tranh bị giết. Có lẽ nhận ra châu Phi trong sương mù xám xịt thế này cũng khó như nhận ra cuộc đấu tranh trong hoạt động có phần uể oải của những người kiếm kế sinh nhai dọc bãi biển nhiệt đới vậy.
Tin đồn rằng mọi nhà cầm quyền của các nước thế giới thứ ba đều phát ngôn cùng một câu vào buổi sáng sau ngày độc lập rằng: “Bây giờ những vấn đề thực sự mới bắt đầu.”
Cabral chưa bao giờ có cơ hội được nói câu ấy: ông bị ám sát trước. Nhưng các vấn đề đã bắt đầu, tiếp diễn và bây giờ vẫn tiếp tục. Những vấn đề không mấy gây hứng thú cho chủ nghĩa lãng mạn cách mạng: làm việc, sản xuất, phân phối, vượt qua sự kiệt quệ, những cám dỗ quyền lực và đặc quyền thời hậu chiến.
Ờ thì… cuối cùng rồi lịch sử cũng chỉ có vị đắng với những ai trông đợi nó được bọc đường.
Vấn đề cá nhân của mình cụ thể hơn: làm sao để quay những người phụ nữ Bissau? Hiển nhiên, tính năng kỳ diệu của mắt đã chống lại mình ở điểm này. Chính trong những khu chợ Bissau và Cape Verde mình có thể nhìn thẳng vào họ bình đẳng lần nữa. và những đường nét nối tiếp này rất gần với nghi thức quyến rũ: mình thấy nàng, nàng đã thấy mình, nàng biết là mình thấy nàng, nàng liếc nhìn mình, nhưng chỉ có một góc nơi vẫn có khả năng như thể là ánh mắt ấy không dành cho mình, và cuối cùng, ánh mắt thực, thẳng băng, kéo dài tới 1/24 giây, độ dài của một khuôn hình.
Mọi phụ nữ đều có sẵn trong mình khả năng bất diệt.
Và nhiệm vụ của đàn ông luôn là làm cho họ nhận ra điều đó càng muộn càng tốt. Đàn ông châu Phi cũng giỏi trong nhiệm vụ này như những đàn ông nơi khác. Nhưng sau khi nhìn thật gần phụ nữ châu Phi, mình có lẽ không nên đặt cược vào đàn ông ở đây thì hơn.
Anh kể cho tôi câu chuyện về con chó Hachiko. Một con chó đợi ông chủ hàng ngày ở bến tàu. Ông chủ chết, con chó không biết điều ấy, và nó cứ đợi suốt cả cuộc đời. Mọi người cảm động và mang cho nó thức ăn. Sau khi nó chết, một bức tượng được dựng tuyên dương nó, sushi và bánh gạo vẫn được đặt trước mặt để linh hồn trung thành của Hachiko sẽ không bao giờ bị đói.
Tokyo đầy ắp những huyền thoại bé xinh kiểu này, và những con vật gợi nhiều suy nghĩ. Con sư tử Mitsukoshi đứng gác trước biên giới của cái đã từng là triều đại của ông Okada – một nhà sưu tập tranh của Pháp vĩ đại, người đã thuê lâu đài Versailles để kỷ niệm một trăm năm những khu mua sắm của ông. Ở đó tôi đã thấy, trong những khu bán máy tính, những người Nhật trẻ tập luyện trí não như những người Athen ở Palaistra. Họ có một cuộc chiến để thắng. Sách lịch sử trong tương lai sẽ có thể đặt trận hỗn chiến cùng trình độ với chiến trận Salamis và Agincourt, nhưng sẵn sàng tuyên dương đối thủ không may bằng cách bỏ lại các bãi chiến trường khác cho hắn: thời trang nam giới mùa này được đặt theo biểu trưng của John Kennedy.”
Như một cụ rùa đá đặt ở góc một cánh đồng, hàng ngày anh thấy ông Akao – chủ tịch của đảng Yêu nước Nhật – hét như sấm từ trên đỉnh đài đi động phản đối mưu toan của chủ nghĩa cộng sản quốc tế. Anh viết cho tôi: những chiếc xe của đảng cực hữu với cờ quạt và loa phóng thanh là một phần của toàn cảnh Tokyo – ông Akao là điểm lấy nét trong đó. Mình nghĩ ông này sẽ có bức tượng riêng giống như con chó Hachiko, ở ngã tư này từ nơi ông ấy khởi hành chỉ đi và tiên đoán trên những chiến trường. Vào những năm 60 ông đã ở Narita. Đó là Roissy ở Larzac, những người nông dân chiến đấu chống lại việc đặt sân bay trên đất của họ, và ông Akao cáo buộc bàn tay Moscow đằng sau mọi thứ chuyển động…
Yurakucho là không gian chính trị của Tokyo. Ngày xưa mình đã thấy một nhà sư cầu nguyện cho hòa bình ở Việt Nam tại đây. Hôm nay những nhà hoạt động cánh hữu trẻ biểu tình chống lại việc người Nga thôn tín các đảo phía Bắc. Đôi khi họ trả lời rằng các quan hệ thương mại của Nhật Bản với những kẻ thôn tín đáng tởm từ phương Bắc còn một nghìn lần tốt hơn là với đồng minh Mỹ kẻ luôn kêu gào về xâm lược kinh tế. Ôi, không có gì là đơn giản cả.
Vỉa hè phía bên kia là chỗ của cánh Tả. Nhà lãnh đạo đảng Công giáo Triều Tiên đối lập Kim Dae Jung – bị gestapo Hàn Quốc bắt cóc ở Tokyo năm 73 – đang bị đe dọa án tử hình. Một nhóm đã bắt đầu tuyệt thực. Vài quân nhân trẻ đang cố thu thập chữ ký ủng hộ.
Mình trở về Narita nhân ngày sinh của một trong những nạn nhân của cuộc đấu tranh. Một cuộc tuần hành không thực. Mình có cảm tưởng đang đóng phim Brigadoon, tỉnh dậy mười năm sau giữa cùng những diễn viên ấy với cùng những con tôm hùm xanh cảnh sát, cùng những thiếu niên đội mũ bảo hiểm, cùng những dải băng với cùng những khẩu hiệu: Phản đối sân bay. Chỉ có một thứ được thêm vào: sân bay, một cách chính xác. Nhưng với một đường băng duy nhất và dây thép gai xiết chặt, trông nó giống như bị vây hãm hơn là chiến thắng.
Người bạn mình Hayao Yamaneko đã tìm ra một giải pháp: nếu những hình ảnh của hiện tại không thay đổi thì phải thay đổi những hình ảnh của quá khứ.
Anh cho tôi xem các vụ đụng độ những năm sáu mươi bằng bàn tổng hợp: anh nói những thước phim ít sai khác hơn – với lòng tin của kẻ cuồng tín – so với cái bạn xem trên truyền hình. Ít nhất chúng cho thấy chính bản thân như chúng vốn thế: những hình ảnh, không phải loại cầm tay và dạng nén của một thực tế vốn dĩ bất khả tiếp cận.
Hayao gọi thế giới cỗ máy của anh là “Zone”, một cách tỏ lòng ngưỡng mộ dành cho Tarkovsky.
Narita mang về cho mình một mảnh hoàn chỉnh, như một tấm ảnh toàn ký bị vỡ, về thế hệ những năm sáu mươi. Nếu yêu không ảo tưởng vẫn là yêu, thì có thể nói rằng mình yêu nó. Thế hệ ấy vẫn thường xuyên làm mình nổi giận, bởi mình đã không đồng tình với xã hội không tưởng của nó về việc hợp nhất trong một cuộc đấu tranh chung những người chống cái nghèo và những người chống sự thịnh vượng. Nhưng nó gào lên phản ứng từ trong gan ruột, cái đã điều chỉnh tốt hơn những tiếng nói không còn biết phải nói thế nào, hoặc không còn dám thốt lên.
Mình gặp những người nông dân ở đó, những người đã tìm thấy mình giữa cuộc đấu tranh. Nó thất bại, rất cụ thể. Trong lúc ấy, tất cả những gì họ có được trong việc hiểu biết thế giới, trong việc hiểu biết chính mình, chính là cái cuộc đấu tranh không thể mang lại cho họ.
Với những sinh viên thì có những người kết thúc bằng tàn sát lẫn nhau trên núi nhân danh sự thuần khiết cách mạng, và những người đã từng học khá kỹ chủ nghĩa tư bản để chống lại nó để rồi hôm nay họ trao cho nó những nhân viên cừ nhất. Cũng như mọi nơi khác, Phong trào đã có những thằng hề và những kẻ bon chen – trong đó gồm cả - bởi thực sự có – những kẻ ngoi lên từ cuộc tuẫn đạo – nhưng nó đã mang lại những người nói giống như Che Guevara rằng họ “run lên vì phẫn nộ mỗi khi xảy ra một điều bất công trên đời”. Họ muốn đưa ra một ý nghĩa chính trị cho lòng cao thượng của họ, và lòng cao thượng của họ sẽ sống lâu hơn chính trị của họ. Đấy là vì sao mà mình sẽ không bao giờ để ai nói rằng hai mươi không phải là tuổi đẹp nhất trên đời.

Sunday, January 10, 2010

Không mặt trời - "...điều còn lại chỉ là một vết thương... thoát xác."


Sans soleil (1985) - Chris Marker - P.4
Năm đó, một gương mặt mới xuất hiện giữa những gương mặt tuyệt vời tô điểm cho phố phường Tokyo: gương mặt Giáo hoàng. Những báu vật chưa khi nào rời khỏi Vatican đã được trưng bày trên tầng bảy khu mua sắm Sogo.
Anh viết cho tôi: tính tò mò dĩ nhiên, và vẻ mơ hồ của gián điệp công nghiệp trong mắt – Mình tưởng tượng họ mang ra trong khoảng thời gian 2 năm một bản sao hiệu quả và đỡ đắt hơn của Thiên chúa giáo – nhưng ở đó cũng có cả sức quyến rũ liên quan tới thánh thần, ngay cả khi là của ai đó khác.
Thế thì khi nào triển lãm tầng thứ 3 của cảng Macy về biểu trưng thiêng của Nhật Bản như thế có thể thấy được ở Josen-kai trên đảo Hokkaido? Đầu tiên người ta cười vào cái mớ hỗn hợp gồm bảo tàng, nhà thờ và một sexshop. Ỏ Nhật Bản như mọi khi, người ta ngưỡng mộ việc những bức tường giữa các lĩnh vực rất mỏng manh đến nỗi trong cùng một hơi thở có thể ngắm nghía một bức tượng, mua một con búp bê thổi lên được và dâng cho vị chúa phồn thực những lễ vật nhỏ vẫn luôn đi kèm theo các biểu hiện của người. Những biểu hiện thẳng thắn có thể khiến các thủ đoạn truyền hình trở nên không thể hiểu nổi, nếu nó không đồng thời nói rằng một giới tính chỉ hiển hiện với điều kiện tách rời khỏi một cơ thể.
Người ta có thể muốn tin vào một thế giới trước khi sụp đổ: bất khả tiếp cận những cái phức tạp của một Thanh giáo bị cái bóng giả áp lên do sự chiếm đóng của quân Mỹ.Nơi mọi người tụ tập cười đùa quanh cái đài tế lễ, người phụ nữ chạm vào nó bằng một cử chỉ thân thiện chia sẻ cùng một sự ngây thơ vũ trụ.
Phần hai của bảo tàng – với những đôi thú nhồi – có thể sẽ là thiên đường trên mặt đất mà chúng ta vẫn thường hay mơ. Không chắc lắm… ngây thơ thú vật có thể là một mưu mẹo để đi vòng qua kiểm duyệt, nhưng có lẽ cũng là tấm gương của một sự bất khả hòa giải. Và ngay cả khi thiếu đi tội lỗi nguyên thủy thiên đường trên mặt đất này vẫn có thể là một thiên đường đánh mất. Trong cái tuyệt vời óng mượt của những con thú dịu dàng ở Josen-kai mình đọc thấy vết rạn nứt căn bản của xã hội Nhật Bản, vết rạn nứt chia rẽ đàn ông với đàn bà. Trong đời có vẻ nó chỉ bộc lộ qua hai cách: tàn sát bạo lực, hoặc một nỗi phiền muộn thận trọng – giống như của nàng Sei Shonagon - mà người Nhật biểu hiện bằng duy nhất một từ không thể dịch được. Vậy là điều đẩy con người xuống mức quái thú – cái mà những đức cha của nhà thờ vẫn tấn công – giờ biến thành thách thức của những con quái thú đối với tính cảm động của sự vật, đối với nỗi phiền muộn có màu sắc mà mình có thể tả cho bạn qua vài dòng của Samura Koichi: Ai bảo thời gian hàn gắn mọi vết thương? Có lẽ nên nói rằng thời gian hàn gắn tất cả trừ những vết thương. Với thời gian, nỗi đau chia cắt mất đi những giới hạn thật. Với thời gian, cơ thể được khát khao sẽ biết mất dần, và nếu cơ thể khát khao đã thôi tồn tại cho cơ thể kia, thì điều còn lại chỉ là một vết thương… thoát xác.”
Anh viết cho tôi rằng bí mật của Nhật Bản – cái mà Lévi-Strauss đã gọi là tính cảm động của sự vật – ngụ ý sức mạnh chia sẻ với sự vật, thâm nhập vào chúng, biến thành chúng một chốc lát. Điều bình thường là đến lượt chúng chúng cũng sẽ giống chúng ta: tan rữa và bất tử.
Anh viết cho tôi: thuyết vật linh là một khái niệm quen thuộc ở châu Phi, ít được áp dụng hơn ở Nhật Bản. Thế chúng ta sẽ phải gọi là gì niềm tin phát tán mà theo nó mỗi mảnh của sáng tạo có một bản sao vô hình riêng? Khi người ta xây một nhà máy hay một toà nhà chọc trời, họ bắt đầu bằng một lễ tế làm khuây khỏa vị thần sở hữu mảnh đất. Có lễ tế cho những bụi cây, cho các đỉnh cột, và thậm chí cả cho những cái đinh gỉ sét nữa. Có một lễ vào ngày 25 tháng 9 để yên nghỉ linh hồn của những con búp bê hỏng. Những búp bê này được chất lên nhau trong đền Kiyomitsu thờ thần Kannon – vị thần của lòng trắc ẩn, đức Quan Âm của chúng ta – và được đốt trước công chúng.
Mình trông vào những người tham gia. Mình nghĩ những người đã tiễn biệt các phi công kamikaze cũng có vẻ mặt như thế.
To be continued

Saturday, January 9, 2010

Càng xem TV Nhật Bản... bạn càng cảm thấy nó đang xem bạn

Sans Soleil (1985) - Chris Marker - P.3
Anh tả cho tôi về cuộc hội ngộ ở Tokyo: như là con mèo đã trở về nhà sau kỳ nghỉ trong chiếc giỏ ngay lập tức bắt đầu thám thính lại những nơi thân quen. Anh chạy ngay tới xem mọi thứ có còn ở nơi chốn cũ: con cú Ginza, đầu máy xe lửa Shimbashi, đền thờ cáo trên nóc khu mua sắm Mitsukoshi, nơi anh thấy đông nghịt các cô bé và các ca sỹ nhạc rock. Anh nghe kể rằng bây giờ tới lượt các cô bé tạo ra hoặc không tạo ra các ngôi sao; các nhà sản xuất run sợ trước các cô. Anh nghe kể rằng một phụ nữ bị biến dạng tháo mặt nạ ra trước những người qua lại và cào họ nếu họ không thấy cô đẹp.

Mọi thứ đều hấp dẫn anh. Anh là người không bao giờ quan tâm Dodgers có thắng giải toàn quốc không hay Daily Double trả lời ra sao khi được hỏi sôi nổi rằng Chiyonofuji đã làm thế nào trong giải đấu sumo mới đây. Anh hỏi tin tức về gia đình hoàng tộc, về thái tử, về ông chùm xã hội đen già nhất Tokyo thường xuyên xuất hiện trên TV để dậy về lòng tốt cho trẻ em. Những niềm vui đơn giản này anh chẳng khi nào cảm nhận được: trở về với một đất nước, một ngôi nhà, một gia đình. Nhưng mười hai triệu dân cư vô danh có thể tiếp sức cho anh.
Anh viết: Tokyo là thành phố đan chéo bởi những con tàu, bị buộc vào nhau bằng dây điện, nàng phơi bày các tĩnh mạch mình. Họ nói rằng truyền hình làm dân chúng nàng thất học, còn mình thì mình chưa thấy nhiều người đọc trên phố đến thế bao giờ. Có khi họ chỉ đọc mỗi trên phố thôi, hay có khi là họ - những người da vàng này - chỉ vờ vịt đọc. Mình hay hẹn mọi người ở Kinokuniya, một hiệu sách rất to ở Shinjuku. Thiên tài đồ họa cho phép người Nhật phát minh ra Cinemascope 10 thế kỷ trước điện ảnh hiện đại có đền bù chút ít cho số phận hẩm hiu của những nữ anh hùng hay nạn nhân trong cột truyện tranh trên báo của các tác giả vô tâm và của cắt xén kiểm duyệt. Đôi khi họ đào thoát, và bạn lại thấy họ trên các bức tường. Toàn thành phố là một cột truyện tranh. Đó là Hành tinh Manga. Làm sao một người có thể không nhận ra nổi nghệ thuật điêu khắc đã đi từ Ba-rốc nhựa hóa tới trung tâm Stalin? Và những bộ mặt khổng lồ mắt trĩu nặng lên những người đọc truyện tranh, tranh to hơn cả người, kích thích những người thích ảnh khiêu dâm.
Đêm xuống đô thị náo nhiệt vỡ thành những ngôi làng với những khu nghĩa trang riêng núp dưới bóng những ngân hàng, với những bến đỗ và miếu mạo riêng. Mỗi quận của Tokyo một lần nữa lại trở thành thị trấn nhỏ sạch sẽ độc đáo, làm tổ giữa những tòa nhà chọc trời.
Một quán nhỏ ở Shinjuku nhắc anh nhớ tới cây sáo Ấn Độ mà âm thanh chỉ có duy nhất người chơi sáo nghe được mà thôi. Anh có lẽ đã khóc nếu đó nằm trong một phim của Godard hay một vở kịch của Shakespeare, :”Nhạc này biết đặt vào đâu?”
Sau đó anh kể cho tôi là đã ăn tại một nhà hàng ở Nishi-nippori nơi anh Yamada thể hiện môn nghệ thuật “nấu ăn hành động”. Anh nói rằng khi quan sát thật kỹ các thao tác của anh Yamada và cách anh trộn các thành phần, người ta có thể nghiền ngẫm rất bổ ích về những ý tưởng cơ bản chung cho hội họa, triết học, và karate. Anh cho rằng anh Yamada sở hữu trong tác phong khiêm tốn bản chất của kiểu cách, và do vậy mà anh có thể tùy ý sử dụng chiếc cọ vô hình để viết lên ngày đầu tiên ở Tokyo này chữ “Hết.”
Mình bỏ cả ngày ngồi trước TV – cái hộp ký ức. Mình đã ở Nara với những con hươu thần. Mình đã chụp ảnh mà không biết là vào thế kỷ 15 Basho đã viết: “Cây liễu thấy hình ảnh con diệc… lộn ngược.” Quảng cáo trên truyền hình trở thành một thể loại thơ haiku cho mắt, đã quen với sự tàn bạo phương tây trong lĩnh vực này; sự không hiểu hiển nhiên càng thăng thêm thích thú. Trong một giây phút ảo giác nhẹ mình có cảm tưởng như đang nói tiếng Nhật, nhưng đó chỉ là một chương trình văn hóa trên kênh NHK nói về Gérard de Nerval.
8:40, ở Cambodia. Từ Jean-Jaques Rousseau tới Khmer Đỏ: sự ngẫu nhiên hay chiều hướng lịch sử?
Trong Apocalypse Now, Brando nói vài câu mang tính kết luận và không liên quan: “Nỗi khiếp sợ có mặt và có tên… cần phải làm bạn với nỗi sợ.” Để đuổi nỗi sợ có mặt và có tên đi, bạn phải cho nó một bộ mặt và một cái tên khác. Phim kinh dị Nhật có vẻ đẹp hấp dẫn của vài thây ma. Đôi khi người ta bị hút hồn bởi tàn nhẫn quá mức. Người ta tìm kiếm nguồn gốc trong sự gần gũi với đớn đau của người châu Á, đến mức đòi hỏi ngay cả nỗi đau cũng phải lộng lẫy.
Rồi tới sự báo oán: những loài quỷ dữ được lôi ra, Natsume Masako hồi sinh; vẻ đẹp tuyệt đối cũng có mặt và có tên.
Nhưng càng xem truyền hình Nhật Bản… bạn càng cảm thấy nó đang xem bạn. Mặc dù bản tin truyền hình chứng minh rằng tính năng kỳ diệu của mắt là ở trung tâm mọi thứ. Đây là thời kỳ bầu cử: những ứng cử viên thắng cử giấu đi con mắt trắng của Daruma – linh vật may rủi – trong khi những kẻ thua – buồn nhưng kiêu hãnh – mang đi Daruma –một-mắt của họ.
Hình ảnh khó nhận ra nhất là về châu Âu. Mình xem những thước phim chưa được ghép âm thanh. Mình mất tới 6 tháng để làm về Ba Lan.
Trong khi đó, mình không gặp khó khăn gì với các trận động đất địa phương. Nhưng mình phải nói rằng cơn chấn động đêm qua đã giúp mình nắm được một vấn đề.
Thi ca được sinh ra từ sự bất an: những người Do Thái lang thang, những người Nhật chấn động; bởi sống trên một dải nơi tự nhiên thích đùa cợt luôn sẵn sàng rút ra từ bên dưới họ sống với thói quen di chuyển trong một thế giới của bề ngoài: mong manh, phù du, không chắc chắn, của những chuyến tàu bay từ hành tinh này sang hành tinh khác, của samurai đánh nhau trong một quá khứ không thể thay đổi. Cái đó gọi là “tính nhất thời của của sự vật.”

Mình đã đi trọn hành trình, tới tận những buổi biểu diễn đêm được gọi là cho người lớn. Cùng thứ đạo đức giả như trong những cột tranh truyện, nhưng đó là thứ đạo đức giả được mã hóa. Kiểm duyệt không phải là chuyện cắt xẻo chương trình, mà chính là chương trình. Mật mã là thông điệp. Nó chỉ ra sự tuyệt đối bằng cách giấu đi. Đó là điều mà các tôn giáo vẫn từng làm.


To be continued...

Saturday, December 5, 2009

Không mặt trời - "Vậy là đã bao mùa qua rồi?"


Sans Soleil (1985) - Chris Marker - P.2
Anh tng viết cho tôi t châu Phi. Anh phân bit thi gian châu Phi vi thi gian châu Âu, và c thi gian châu Á na. Anh nói vào thế k 19 loài người đã có khái nim v không gian, và câu hi ln ca thế k 20 là s tn ti song hành ca các khái nim thi gian khác nhau. Nhân tin, bn có biết là đã tng có đà điu Ile de France?
Anh viết cho tôi rng trên đo Bijago, nhng cô gái tr được chn chng chưa cưới cho mình. Anh tng viết cho tôi rng ngoi ô Tokyo có mt ngôi đn th mèo. Tôi ước mình có th cho bn thy v đơn gin – không chút gi to - ca hai người đã đến đt mt tm gỗ chm trong nghĩa trang mèo đ cô mèo Tora ca h được bo v. Không nó chưa chết, ch chy đi mt thôi. Nhưng vào ngày nó chết s không ai biết phi cu khn cho nó thế nào, can thip vi cái chết thế nào đ ông có th gi nó bng tên tht được. Vy là h phi đến đó, c hai người, dưới tri mưa, đ làm l cha li nơi mng thi gian đứt gãy.
Anh viết cho tôi: Mình sẽ mất cả đời cố gắng hiểu cách vận hành của sự nhớ, cái này không đối lập với sự quên, mà với sự nối dài. Chúng ta không nhớ, chúng ta viết lại ký ức như là lịch sử được viết lại. Làm sao ai đó có thể nhớ cơn khát thế nào?
Anh không thích nói về cái nghèo, nhưng trong mọi điều anh chỉ ra đều có 4 chữ F của hình mẫu Nhật Bản. Một thế giới đầy những kẻ rỗi hơi, những kẻ ngu muội, những kẻ bên lề xã hội và những người Hàn Quốc. Quá nghèo để mà mua thuốc phiện, họ say sưa bằng bia, bằng sữa lên men, Ở Namidabashi sáng nay, cách trung tâm thành phố hoa lệ 20 phút, một nhân vật trả thù xã hội bằng cách điều khiển giao thông ở ngã tư đường. Điều xa xỉ người ta có thể làm là một chai sake thật to trong số những chai kia được tưới trên những ngôi mộ vào ngày của người chết.
Mình đã trả một tuần rượu trong một quán ở Namidabashi. Một chỗ như thế cho phép mọi người nhìn chằm chằm lẫn nhau bình đẳng; một ngưỡng nơi mỗi người đều tốt như bất cứ người nào khác – và biết điều đó.
Anh kể cho tôi về Jetty ở Fogo, trên đảo Cape Verde. Họ đã ở đó bao lâu đợi tàu, kiên nhẫn như những hòn cuội nhưng cũng đã sẵn sàng nhảy? Họ là những kẻ lang thang, thuyền trưởng, những dân du lịch vòng quanh thế giới. Họ tự tạo qua lai giống ở đây trên những tảng đá mà người Bồ Đào Nha từng dùng cho các tuyến xe lửa thời đô hộ. Một dân tộc của hư vô, một dân tộc của trống rỗng, một dân tộc chiều thẳng đứng. Thật ra, bạn đã bao giờ nghe thấy cái gì ngu hơn việc nói với mọi người như người ta vẫn dạy trong trường điện ảnh là đừng nhìn vào máy quay chưa?
Anh từng viết cho tôi: Sahel không chỉ là cái còn lại được phơi bày khi đã quá muộn; đó là một miền đất khô hạn chảy như là nước vào một con tàu rò rỉ. Những con thú phục sinh vào lúc diễn ra lễ hội hóa trang ở Bissau sẽ lại hóa đá, ngay khi một đợt tấn công mới biến đồng cỏ thành sa mạc. Đây là một trạng thái sống còn mà những nước giàu đã lãng quên, với một ngoại lệ - bạn thắng rồi nhé – đó là Nhật Bản. Những chuyến đến và đi liên tục của mình không phải là một cuộc kiếm tìm những sự đối lập; đó là một hành trình đi tới hai thái cực của sống còn.
Anh nói với tôi về Sei Shonagon, nàng hầu của Công chúa Sadako vào thế kỷ thứ 11, dưới thời đại Heian. Chúng ta đã bao giờ biết khi nào lịch sử thực sự được tạo nên? Những nhà cầm quyền thao túng và sử dụng những chiến lược phức tạp để đánh lẫn nhau. Quyền lực thật nằm trong tay một gia đình của những người thừa kế; triều đình của hoàng đế trở thành một nơi chẳng qua chỉ là một thâm cung bí sử với những trò chơi trí tuệ mà thôi. Nhưng trong khi học cách vẽ ra một thứ an ủi hoài niệm từ việc nghiền ngẫm cả những cái nhỏ nhặt nhất, nhóm nhỏ những kẻ ngồi rỗi này đã để lại dấu vết trên tính nhạy cảm Nhật Bản sâu sắc hơn cả tiếng sấm tầm tầm của những nhà chính trị. Shonagon đam mê lập các danh sách: danh sách những thứ trang nhã, “những thứ cáu giận”, hay thậm chí là “những thứ không đáng làm”. Một hôm nàng nảy ra ý phác một dang sách “các thứ làm tim đập nhanh”. Mình nhận ra khi quay phim rằng đó không phải là một tiêu chuẩn tệ; mình cúi rạp trước sự thần kỳ của nền kinh tế, nhưng điều mình muốn cho bạn xem lại là những lễ kỷ niệm ở quanh vùng.
Anh viết cho tôi: Trở về qua eo biển Chiba mình nghĩ về danh sách của Shonagon, về tất cả những ký hiệu mà một người chỉ gọi tên ra để làm tim đập nhanh, chỉ có tên. Với chúng ta, một mặt trời không hẳn là một mặt trời nếu không tỏa sáng, và một mùa xuân không hẳn là mùa xuân nếu không tinh khôi. Ở đây nếu đặt các tính từ vào có thể sẽ khiếm nhã như là để quên mác giá trên quà vậy. Thi ca Nhật Bản không bao giờ biến đổi. Có một cách để gọi thuyền, đá, hơi sương, ếch, quạ, mưa đá, con diệc, hoa cúc, bao gồm tất cả những cái đó. Báo chí gần đây tràn ngập câu chuyện về một người đàn ông quê Nagoya. Người phụ nữ anh yêu chết năm ngoái thế là anh vùi mình vào công việc – phong cách Nhật Bản – như một người điên. Có vẻ như anh thậm chí còn khám phá ra cái gì đó quan trọng trong ngành điện tử. Rồi đến tháng Năm anh tự tử. Họ bảo anh không thể chịu nổi khi nghe ai nói tới từ “Mùa Xuân”.

Friday, December 4, 2009

Không mặt trời

Sans Soleil (1985) - Chris Marker - P.1

(Favorite documentary filmmaker ever)

Hình ảnh đầu tiên anh kể cho tôi là về ba đứa trẻ trên một nẻo đường Iceland, năm 1965. Anh nói rằng với anh đó là một hình ảnh hạnh phúc và rằng anh đã thử vài lần kết nối nó với những hình ảnh khác mà không được. Anh viết cho tôi thế này: một ngày mình sẽ phải đưa riêng nó vào đoạn mở đầu của một bộ phim với một đoạn đen dài; nếu người ta không thấy hạnh phúc trong phim, ít ra họ cũng sẽ thấy màu đen.

Anh viết: Mình vừa về từ Hokkaido, hòn đảo phương Bắc. Người Nhật giàu có và vội vã thì đi bằng máy bay, những kẻ khác thì đi tàu phà: đợi chờ, bất động, tranh thủ gà gật. Thật lạ là những cái đó làm mình nghĩ tới một cuộc chiến trong quá khứ hay trong tương lai với những chuyến tàu đêm, những cuộc không kích, những hầm trú ẩn, những mảnh vỡ nhỏ của chiến tranh ám vào cuộc sống hàng ngày. Anh thích cái mong manh của những khoảnh khắc ngưng đọng của thời gian. Những ký ức ấy chỉ có mỗi chức năng là bỏ lại đằng sau mọi thứ ngoại trừ ký ức. Anh viết: Mình đã đi vòng quanh thế giới vài lần và giờ thì chỉ mỗi sự chán chường là còn làm mình quan tâm nữa thôi. Trên chuyến đi này mình đã theo dấu nó không ngơi nghỉ như một thợ săn ngoại hạng. Bình minh bọn mình sẽ tới Tokyo.