Friday, May 9, 2014
Quy tắc số 6
Wednesday, February 5, 2014
Đừng lo, cũng chỉ là một bộ phim thôi mà
Wednesday, January 22, 2014
Trong chớp mắt - Walter Murch
Monday, March 11, 2013
Black mirror - QUỐC CA
1. Gọi là TV series - phim truyền hình dài tập, nhưng 2 năm mới có 1 season (mùa), mỗi season chỉ có 3 tập, mỗi tập là một câu chuyện độc lập, hoàn chỉnh và có một tên riêng. Tất nhiên là tất cả các tập đều có một tư tưởng chung liên quan tới "black mirror" và công nghệ thông tin/sci-fi.
2. Mỗi tập là một nỗi ám ảnh, là một hình ảnh phản chiếu mặt tối của con người, cả ở góc độ cá nhân lẫn tập thể. Tất cả tổng hợp thành một tấm "gương đen" lớn cho thấy cái không ai muốn thấy ở bản thân mình. Hẳn là mỗi tập đều hay ở cùng một điểm: những ý tưởng bất cứ ai cũng có thể từng chợt nảy ra trong tiềm thức hoặc một chuyện đã từng đọc được ở đâu đó giờ được kể bằng một ngôn ngữ điện ảnh hiện đại, rất Anh, vừa siêu thực, phi lý vừa drama đến tận cùng.
Season 1 được làm năm 2011, có ba tập: The National Anthem, Fifteen million merits, The entire history of you.
The National Anthem (Quốc ca) nói về bi kịch của ngài Thủ tướng khi một công nương trong hoàng tộc bị bắt cóc. Kẻ bắt cóc ra điều kiện duy nhất là phải truyền hình trực tiếp toàn quốc cảnh Thủ tướng giao cấu với một con lợn.
Tất nhiên, câu chuyện có những nút thắt như mọi tác phẩm điện ảnh được làm tử tế, dẫn dắt người xem hồi hộp theo dõi xem Thủ tướng sẽ làm thế nào, và cuối cùng cái việc khủng khiếp kia có xảy ra không. Nếu phim chỉ có thế thì đơn giản quá. Một tứ truyện gây sốc và cách kể khéo léo không đủ để trở thành ám ảnh. Nếu khán giả chỉ trông chờ có thế, thì chính khán giả cũng như người dân trong cái phim ấy được trưng cầu ý kiến, cho rằng Thủ tướng nên đáp ứng yêu cầu kẻ bắt cóc, vì Thủ tướng thì dân có thể thay được, chứ không có công nương làm sao dân có thể sống nổi. Nếu khán giả chỉ thấy được đến thế, thì họ cũng chẳng khác những người dân cho dù được cảnh báo tắt tivi nhưng vẫn mở to mắt hào hứng hơn xem một trận bóng đá, để nhìn tận mắt một con người bị hạ nhục xuống bằng con lợn.
Như vậy, ý nghĩa của phim hoàn toàn nằm ở chỗ khác.
Nỗi ám ảnh đeo bám không phải ở cái ý tưởng khủng khiếp của kẻ bắt cóc. Phim Deliverence (1972) cũng ghê rợn kiểu ấy, có cái đoạn khiến ai đã xem phim không thể quên được câu thoại "I bet you can squeal like a pig. Weeeeee!". Trong The National Anthem, nỗi ám ảnh lại là hình ảnh người dân chăm chú xem cái cảnh mất nhân tính kia trên TV. Trực tiếp. Toàn quốc.
Khán giả hẳn phải soi vào những người xem ấy mà tự hỏi, cái gì mất nhân tính hơn? Liệu vô tình mình đã từng như đám đông ấy bao giờ trong đời?
Xem đoạn quay chậm dân tình xem truyền hình trực tiếp này, nghĩ tới cái tên phim mới thấy trông họ không khác gì đang hát quốc ca.
Tôi nghĩ, phim này còn đặt ra nhiều vấn đề rất đương đại khác nữa, ví dụ như khủng bố (terrorism) bằng internet và các phương tiện thông tin đại chúng theo đúng nghĩa "terror", ý chí cá nhân vs. ý chí đám đông, giá trị thực vs. giá trị ảo, v.v...
Không có nhiều thứ để nói về hình ảnh trong The National Anthem. Phim được quay kiểu tài liệu: máy cầm tay/vác vai/steadycam. Nội dung đã quá absurd và nặng rồi nên hẳn không ai xem để thưởng thức các màn quay đẹp. Phim này cũng có "black humor"- "hài thâm" kiểu Anh. Nhưng nhìn chung thì nó đau đớn vô cùng.
PS: Các bạn "đế quốc" Anh thật hay ho. Các nhà làm nghệ thuật tha hồ lôi hoàng tộc và Thủ tướng (được đổi tên, tất nhiên) ra làm đối tượng sáng tác mà không ai bị bỏ tù. Yêu các bạn Anh quá đi mất.
Ảnh "mượn" trên internet.
Sunday, December 9, 2012
Boardwalk Empire - It's too good not to write about
Đấy là khi ta nghĩ về Boardwalk Empire.
Ta vừa xem hết season 3 mấy hôm trước. Quá choáng ngợp để mà viết ngay, nhưng không viết thì đúng là không chịu được.
Ta vẫn thường ghét phim truyền hình dài tập. Từ xưa tới nay vẫy vậy. Nhưng 2 năm gần đây, quan điểm của ta thay đổi, hẳn cũng một phần nhờ quan điểm của người làm phim truyền hình thay đổi vô cùng. Có lẽ không ngoa nếu nói, những năm 2000 - 2012 là thời kỳ trở lại ngoạn mục của phim truyền hình (Tạm chỉ nói tới Anh-Mỹ thôi nhá).
Những phim khiến ta đủ thích để xem không bỏ sót tập nào:
- Sherlock (Anh)
- Misfits (Anh)
- Game of Thrones (Mỹ - HBO, diễn viên Anh, Mỹ lẫn lộn)
- Band of Brothers (Mỹ - HBO)
- Boardwalk Empire (Mỹ - HBO)
Trong danh sách những phim truyền hình dài tập hay nhất của IMDB còn nhiều bộ điểm cao lắm lắm nhưng thời gian đâu mà xem. Chừng kia là đã quá nhân nhượng cho TV show rồi còn gì.
Quay lại Boardwalk.
Đây là minh chứng cho việc thay đổi tư duy làm phim truyền hình: Tập pilot do Martin Scorsese đạo diễn tốn kém 18 triệu đô la. Riêng cái phần trường quay Boardwalk, tức là con đường lát gỗ trải dài dọc bờ biển Atlantic City (dài 91m) cũng đã ngốn 5 triệu đô rồi.
Như vậy nghĩa là gì? Là các nhà sản xuất không làm phim truyền hình để chiếu trên vô tuyến truyền hình. Họ làm như làm phim chiếu rạp. 60 phút một tập được trau chuốt quay bằng phim 35mm (rồi thêm grain giả 16mm cho đẹp) như để ra rạp chiếu màn hình trung bình 9m x 21m, xong rồi chiếu chất lượng HD trên TV và bọn pirate (Hello everyone!) lôi lậu xuống xem bằng màn hình máy tính.
Thật là tiếc của. Nhưng mà thôi, đấy là chuyện khác.
Bỏ qua tiền nong và những khoản đầu tư kỹ thuật, hiển nhiên việc Martin Scorsese mặc định phong cách, hình ảnh, diễn viên mọi thứ mọi thứ... cho Boardwalk, lại còn đồng sản xuất, đã bảo đảm là phim hẳn phải classy - "chất". Mà chất thật. Sau đó, các đạo diễn khác cứ thế mà làm thôi.
Kịch bản Boardwalk Empire do Terence Winter viết dựa trên phần nói về thời kỳ cấm rượu những năm 1920 ở Mỹ trong cuốn sách phi-hư cấu Boardwalk Empire: The Birth, High Times and Corruption of Atlantic City của Nelson Johnson. Phim xoay quanh nhân vật Enoch "Nucky" Thompson - mô phỏng nhân vật chính trị gia kiêm gangster có thật tên "Nucky" Johnson khét tiếng thời kỳ này.
Lại nói chuyện phim truyền hình: nó còn có lợi thế về đằng kể chuyện, ấy là khai thác nhân vật triệt để. Từ nhân vật phụ cho tới chính và rất chính, khán giả cùng họ trải qua nhiều biến cố, thấy được nhiều bộ mặt ở cùng một con người, để mà thích, để mà ghét, và đặc biệt là vừa thích vừa ghét đồng thời. Cái thứ phức cảm này khó có được hơn nhiều cho đều cả một dàn nhân vật trong phim truyện dài 1 tập. Ví dụ điển hình là Lawless: Jessica Chastain thủ vai Maggie Beauford rất hay, nhưng ít đất diễn quá, câu chuyện tập trung vào 3 anh em nhà Bondurant nên khán giả thấy tiếc tiếc là không được xem cô tỏa sáng lâu hơn.
- Steve Buscemi - Enoch "Nucky" Thomson
- Michael Shannon - Nhân viên cảnh sát Nelson Van Alden
- Stephen Graham - Al Capone
- Michael Stuhlbarg - Arnold Rothstein
- Kelly Macdonald - Margaret Schroeder
- Michael Pitt - James "Jimmy" Darmody
Steve Buscemi không giống như nhân vật có thật kia - thủ quỹ (county treasurer) hạt Atlantic - chủ khách sạn, sòng bạc, nhà thổ, nhà băng - về mặt hình thức. Ông "Nucky" Johnson có cái vẻ tròn trịa ông chủ của Bố già Mafia. "Nucky" Thompson của Buscemi có cái vẻ hào hoa, phóng túng, tinh tế, châm biếm đi kèm với lạnh lùng, ganster đẫm máu, một kẻ gian hùng được ta mến mộ. Nhân vật này là trung tâm tất cả: ông thao túng chính trị, ông điều hành bọn gangster rượu lậu, ông cứu vớt người này, ông giết chóc kẻ khác. Khi ông im hơi lặng tiếng tìm cách lấy lại vị thế lúc bị đối thủ truy lùng triệt hạ, cánh báo chí xúm vào phỏng vấn thị trưởng thành phố về ông. Ngài thị trưởng phán "Nucky Thompson không quản lý thành phố này-- Tôi đấy chứ," thế là ngài bị cười một trận đến độ bỏ chạy mất cả micro.
Steve Buscemi trước giờ toàn đóng những vai hoặc nhỏ, hoặc nhảm. Mấy phim hay ho nhất và các vai to nhất đã đóng chắc chỉ loanh quanh Fargo, Big Lebowski, Reservoir Dogs. Xem những phim ấy, ta không hiểu vì sao nghiệp ông không phất. Thì đây: chính Boardwalk mới đưa ông lên vị trí xứng tầm. Nhưng mà cũng già phết rồi đấy. Kiểu của ông này là gừng càng già càng cay, cay xong rồi không biết có đóng được lâu lắm nữa không.
Michael Shannon - một lần nữa lại đóng một vai mà người bình thường sẽ cho là không bình thường. Anh từng được đề cử Oscar cho diễn viên phụ xuất sắc nhất trong Revolutionary Road (Sam Mendes), vai John Givings - cậu con tâm thần của hai ông bà già chủ nhà cũ của hai vợ chồng Wheeler (Kate Winslet và Leonardo DiCaprio). Trong Boardwalk, Shannon nhận một vai phụ hư cấu, nhưng đủ đất phát triển, từ season 1 đến season 3 (và chắc còn tiếp nữa vì tuyến nhân vật quá ư là hứa hẹn), một anh nhân viên cảnh sát cứng nhắc, cổ hủ, mộ đạo thái quá, có một vợ già ở quê không có khả năng sinh con. Van Alden mang niềm tin sắt đá vào luật pháp, nhiệt tình chống rượu lậu, như con chó săn thấy đời chỉ có nghĩa khi theo đuổi điều tra nhằm vạch tội "Nucky" Thompson. Từ phần một, theo dòng đời xô đẩy như sóng Đại Tây Dương dạt những chai rượu lậu vào bờ, Van Alden phải đối mặt với những tình huống không bao giờ anh ta tính cho đời mình. Và viên cảnh sát kiêm con chiên ngoan đạo một hồi bỗng hóa thành tay bán rượu lậu. Trong tiểu thuyết hay phim, con người ta dĩ nhiên là phải thay đổi, cách này hay cách khác, nếu không thì ai thiết xem nghe đọc.(Nguyên tắc số 1 của nghệ thuật kể chuyện. Các bạn Mỹ phán vậy) Nhưng cách anh ta kháng cự, việc cá tính anh-ta chọi với những tình huống dở khóc dở cười bước đường cùng mới là cái thú khi xem, khi đọc, chứ không phải là liệu người-xem-chúng-ta có đoán trúng những khúc ngoặt ngã rẽ của câu chuyện hay không. Và Michael Shannon biến Van Alden thành một vai không hề phụ, ở điểm: chúng-ta cũng hồi hộp muốn biết rồi đời anh-ta sẽ đi về đâu, y như sốt ruột xem phần 4 sắp tới ông trùm "Nucky" Thompson không-còn-cài-bông-cẩm-chướng-đỏ-trên-ve-áo sẽ hành xử với đời khác với ông "Nucky" cẩm-chướng-đỏ thế nào.
Stephen Graham, khi anh xuất hiện lần đầu trong phần đầu, vai Al Capone, ta đã thấy háo hức. Cái anh chàng lùn một mẩu, nhìn mặt đã thấy buồn cười này số cũng đen, chưa khi nào được đóng vai tử tế trong các phim lớn. Có mấy vai rất hợp kiểu: This is England (không thể không xem - một kiểu La Haine với chất Anh đặc sệt), Snatch (đóng cùng Brat Pitt. Phim Mỹ nhưng hài rất Anh, Guy Ritchie đạo diễn mà, cười sái quai hàm), ngoài ra có cả Gangs of New York là đáng kể. Pirate of Caribbean thì không chấp.
Al Capone là một trùm ma túy có thật, tiếng tăm còn lẫy lừng hơn cả "Nucky" Johnson, một gangster thứ thiệt thao túng thế giới ngầm Chicago và Cicero, lên đời cũng nhờ có luật cấm rượu những năm 1920. Stephen Graham vào vai Al Capone khi còn trẻ, mới đang lên dần từng nấc thang quyền lực. Mọi tố chất gangster đều đã bộc lộ, theo cái kiểu rất ngộ nghĩnh, nhưng có lẽ người ta thích vai Al Capone-ông-bố nhất - dù chỉ thoáng qua, và trái tim nào hẳn cũng phải chùng khi anh ta chơi đàn và hát cho cậu con trai nhỏ tuổi bị điếc "nghe". Ta cũng không ngại mà tự nhận rằng đã rỏ vài mili-lít nước mắt. Ôi mấy tay đạo diễn ấy thật là tài, nhẹ nhàng chẳng phải gắng gượng gì, chẳng bù cho MasterChef Mỹ tập nào cũng ép cho người chơi lẫn người xem khóc rào rào là khóc. Xong rồi, thích quá cái lúc Al Capone ông-bố trở lại là Al Capone xã-hội-đen đưa "quân" tới viện trợ "Nucky", mặt cười cười tỉnh bơ: "I need a bath and some chow and then you and me sit down. And we talk about who dies, eh?" (Tôi cần tắm và cái gì đấy tọng vào mồm đã rồi ông với tôi ngồi xuống. Ta sẽ bàn xem ai chết. Được chứ hả!)
Phù phù, dài quá mà vẫn chưa thấy viết được cái gì thế này. Thế nên 3 người còn lại thì thôi khỏi.
Lại tóm, về truyền hình dài tập: (spoiler trầm trọng)
- Boardwalk có cái cách pha trộ hư cấu vào chuyện thực rất ngọt: các nhân vật hư cấu đều khiến cho các tình tiết lắt léo, hấp dẫn, tác động qua lại cùng với các nhân vật theo hơi hướng tả chân giúp bộc lộ tính cách các cá nhân và thúc đẩy câu chuyện phát triển. Có mấy nhân vật hư cấu có vai quan trọng nhưng vẫn chết thảm lẫm liệt không thương tiếc. Cái mạnh tay với nhân vật kiểu ấy hình như cũng là đặc điểm mới của phim truyền hình mới: Đừng tưởng tôi có vai chính thì tôi không chết ngay giữa phim nhé. Chiêu này không chỉ làm tăng kịch tính bằng cách phá tan định kiến kiểu kể lể truyền thống (cũng giống như là good guy với bad guy bây giờ không việc gì phải rạch ròi rõ ràng), thêm twists and turns khúc ngoặt ngã rẽ mà còn, chắc vậy, để nói về cái chết - và về những người sống sau khi ai đó chết đi. Không hề dễ, nhất là khi ai đó đã "diễn" đủ lâu để người xem đầu tư nhiều tình cảm vào vai này, nhưng một khi hợp tình hợp lý, dù là đau đớn, thì cái hiệu quả cảm xúc ấy lại lớn vô cùng. Nhiều khán giả mê Jimmy Darmody (Michael Pitt - đóng Dreamers ta rất thích của Bertolucci) quá đến nỗi làm bao nhiêu là clip hay cũng có mà sến cũng có trên youtube để tưởng nhớ nhân vật đã ra đi cuối seasson 2.
Tóm nữa thế này:
- Boardwalk có vẻ tham vọng trở thành một epic. Dù sao thì cũng về cả một thời oanh liệt của nhiều người máu mặt chỉ vì cái luật cấm rượu ngu ngốc cho vài cá nhân được lợi kia (Cái gì cấm thì bao giờ cũng có một số ít người ăn trên ngồi chốc hưởng lợi). Boardwalk có tầm vóc một epic. Từ hai phần đầu, các mối quan hệ gia đình, xã hội, chính trường đan chéo làm nên bức tranh toàn cảnh những năm đầu thời kỳ ấy, dần dần sang phần ba, những cuộc lên voi xuống chó của ông trùm "Nucky"đẩy dần câu chuyện sang hơi hướng gangster máu me chém giết khốc liệt. Rồi những sự vụ giật dây chính trị cũng lộ ra, cho thấy "Nucky" cao tay thế nào, "dùng mồi to để bẫy cá to", thâm thúy giống mấy ông trong truyện Tàu, ví dụ như... Tào Tháo.
Còn quá nhiều thứ để nói về Boardwalk, Nào thì các ẩn dụ, các chủ đề, các cặp mâu thuẫn, nào thì nam tính, nào thì nữ quyền, rồi thì thời trang 1920s và khâu thiết kế mỹ thuật, nào thì quay phim nào thì ánh sáng (theo trường phái nghệ thuật Ashcan), lại còn lời thoại, lại còn âm nhạc đậm chất Jazz những năm 20 cùng với rock đương đại v.v...
Trong lúc chờ phần 4 thì ta mời ta nghe tạm cái này
Làm cái gì rất ngắn đã khó, làm cái gì rất dài càng khó hơn. (Tất nhiên, chỉ đúng về những thứ tử tế.)
Wednesday, March 14, 2012
Một cuộc ly thân hay câu hỏi về ly hương
A separation của đạo diễn, biên kịch kiêm nhà sản xuất Asghar Farrhadi suốt một năm qua đã đi qua bao nhiêu liên hoan phim và giải thưởng danh giá của thế giới và đã vinh dự mang về cho tác giả, và cho cả Iran, rất nhiều những “xuất sắc nhất” và những “lần đầu tiên”, trong đó có đề cử kịch bản gốc xuất sắc nhất và Tượng vàng Oscar cho phim nước ngoài xuất sắc nhất, giải của Viện hàn lâm Điện ảnh Hoa kỳ lần thứ 84. Lý do thành công của bộ phim, cũng chính là nhận xét chung rất mực đồng thuận của giới phê bình, chính là bởi A separation không chỉ là chuyện của gia đình Nader và Simin, cũng không về một Iran đặc thù như thế giới vẫn biết, mà đó là câu chuyện của cuộc sống quanh ta cho dù bạn là ai và ở đâu trên thế giới này.

Phim bắt đầu bằng cảnh vợ chồng Nader (Peyman Moadi) và Simin (Leila Hatami) thuyết phục tòa cho ly dị, bởi Simin muốn chồng chị và con gái 11 tuổi Termeh (Sarina Farhadi, con gái đạo diễn) cùng ra nước ngoài sinh sống vì tương lai cô bé, còn Nader không thể bỏ lại người cha già mắc bệnh Alzheimer. Hơn nữa anh nhất định không cho Termeh theo mẹ. Tòa bác đơn với lý do mâu thuẫn quá nhỏ. Hai bên đành ra về và Simin chuyển về nhà cha mẹ đẻ của cô. Cuộc ly thân bắt đầu, Nader buộc phải thuê Razieh (Sareh Bayat) giúp việc nhà và trông người ốm khi anh đi làm, và không may là từ đó nó kéo theo không biết bao nhiêu là rắc rối cho gia đình anh, cho gia đình Razieh. Bằng cách kể chuyện theo tuyến tính thời gian, những lời không được nói dần hé lộ khi các mâu thuẫn được đẩy dần tới cao trào.
Một không khí căng thẳng từ cảnh sang cảnh. không rõ mọi chuyện bắt đầu từ đâu, các nhân vật cứ quẩn quanh trong mối tơ vò của cuộc sống thường ngày, áp lực công việc, cuộc sống gia đình, ràng buộc tôn giáo, những trăn trở đi hay ở, tái hợp hay chia ly. Dưới vỏ bọc của cái mới đầu ta cảm tưởng như số phận an bài, chuỗi những sự việc xảy ra từ cuộc ly thân, tới cô giúp việc bụng mang dạ chửa đi làm trả nợ giúp chồng, tới lòng yêu con và thương người cha già lẫn cẫn của Nader, tới ước mơ đổi đời cho con của Simin dẫn tới mất mát đau đớn của cả hai bên… đều do số phận, hai đứa trẻ ngây thơ và một ông già không có trí nhớ, những kẻ buộc phải đặt đời mình vào tay người khác cũng là số phận. Nhưng số phận không phải là điều đạo diễn muốn nói. Liệu có ai đó đáng phải đứng ra chịu trách nhiệm cho mọi chuyện đau buồn xảy ra ở đây? Họ dường như đều có lý do chính đáng cho mọi hành động, mọi phản ứng của mình trước rắc rối họ bị đẩy vào. Vậy thì tất cả là vì đâu?
Những lời không được nói do lòng tự tôn thái quá của cả Nader lẫn Simin, thứ dường như đã góp phần đẩy họ xa dần nhau ra trước cả cuộc ly thân. Khi Simin trở về thuyết phục Nader chấp nhận trả tiền bồi thường tránh cho cuộc kiện tụng có thể khiến anh ngồi tù nhiều năm, cô không nói rằng mình đến cùng đồ đạc trong xe và sẵn sàng trở về với bố con anh. Vì lòng tự trọng. Anh không bao giờ mở miệng xin cô quay lại dù một lần, mặc cho cô con gái năn nỉ và gắng hết sức mình hàn gắn hai người, anh từ chối sự giúp đỡ của vợ, không muốn mang tiếng là hạ mình nhận lỗi với cô giúp việc Razieh. Vì lòng tự trọng. Cuối cùng con gái họ là kẻ chịu thiệt thòi.
Những lời không được nói còn tệ hơn nữa, dần dẫn tới những dối trá, của Razieh về ông cụ, của Nader về Razieh, của Simin và cô con gái Termeh về Nader … Tất cả tạo thành một xã hội thu nhỏ toàn những kẻ nói dối. Nhưng những con người đáng thương ấy không có lựa chọn. Nói dối hay là chết.
Asghar Farhadi đặt ra một vấn đề chính ông cũng không có lời giải. Ông đặt các nhân vật đối diện với chính họ trước câu hỏi lớn về lương tâm con người, khi quyền lợi và sự sống còn của mình mâu thuẫn với quyền lợi và sự sống còn của người khác. Một câu hỏi vừa vô cùng cá nhân, vừa mang tính phổ quát đủ khiến cho bộ phim chạm tới trái tim khán giả toàn cầu. Thế nhưng, mang số phận là một tác phẩm điện ảnh đến từ Iran, Asghar Farhadi khó tránh được bị hỏi, liệu đây có phải là một phim chính trị? Ông đã trả lời trong một phỏng vấn rằng, nếu bạn coi các mâu thuẫn trong gia đình, giữa hai gia đình khác biệt giai cấp, giữa những băn khoăn trăn trở của họ trong cuộc sống đời thường là có phản ánh các vấn đề chính trị thì đây sẽ là một phim chính trị. Thử tiếp cận theo hướng này, biết đâu ta có thể diễn giải thêm một tầng nghĩa nữa từ những ẩn dụ trong phim. Ngay từ đầu, credits (phần giới thiệu tên) được trình bày bằng những cuốn hộ chiếu được photocopy – để dẫn vào quyết định ly hương của Simin chăng? Hay chính là biểu tượng cho những làn sóng ly hương người Iran 30 năm trở lại đây? Cuộc ly thân đầy trăn trở, bởi cả hai bên không ai muốn, phải chăng cũng hàm nghĩa tâm lý chung của thế hệ trẻ Iran, đi vì tương lai của con cái mình, của chính mình, hay ở vì cái đất nước, cái thể chế già cỗi như cụ già bị Alzheimer thậm chí còn không biết đến con trai mình. Đất nước Iran có biết đến anh không? Dù Nader có trả lời câu nói đau đớn ấy một cách chắc nịch “Nhưng anh biết ông là bố anh”, thì bản thân đạo diễn cũng thú nhận không có câu trả lời, ông nói “Tôi để câu hỏi này lại cho khán giả.” Hóa ra, vấn đề của một tế bào xã hội, có tên Gia đình kia, không hề nhỏ như quan tòa phán không cho hai vợ chồng ly dị. Đằng sau các “vấn đề nhỏ” ấy, nhỏ nên người ta không nhìn thấy, cho đến khi nó cộng dồn lại thành một nỗi nhức nhối không có phương thuốc nào chữa khỏi.
Bức tranh này, mà Asghar Farhadi chỉ khiêm tốn nhận là một mảnh ghép, về cuộc sống Iran hiện đại, với những sắc sáng, tối, những màu, những mảng miếng chân thực và xúc động được tác giả chăm chút điêu luyện ở tầm một họa sỹ lớn. Đạo diễn chọn cách nhấn nhá chi tiết rất khéo léo, đẩy cảm xúc lên cao rất tự nhiên, như khi cô bé con chị giúp việc Razieh nghịch bình oxygene của ông cụ bố Nader, hay khi chị ta gọi điện hỏi xem mình có phạm tội nào của đạo Islam không nếu thay đồ giúp ông cụ. Câu chuyện được kể với tốc độ nhanh, căng, thẳng vào câu chuyện chứ không chậm đến não ruột và lảng tránh như các phim Iran khác. Cả phim hầu hết máy quay đều được cầm tay (handheld), kết hợp với cách đan xen chuyển góc nhìn của các nhân vật và góc nhìn trung tính của người ngoài cuộc, khán giả vừa thở theo nhịp thở nhân vật, đi theo nhịp đi nhân vật, lại vừa ở khoảng cách đủ xa để vừa khách quan mà trách cứ, đồng thời lại cũng thấu hiểu, thông cảm và xót thương họ hơn, trong khi cảm tưởng như các nhà làm phim chẳng phải cố gắng gì ngoài việc đi theo ghi hình họ. Khán giả sống trong phim tới mức tự hỏi “Liệu phim này có đạo diễn hay không?” là điều Asghar Farhadi mong mỏi, do đó ông đã chọn thể loại có cái tên lạ cho A separation là “Detective-Documentary” – trinh thám -tài liệu: tính toán những cú máy để khéo léo giấu đi những chi tiết cần giấu, để phơi ra những gợi ý để khán giả lần mở từ nút thắt này sang nút thắt khác, khám pháp từ bí mật này sang bí mật khác, của một vụ việc không thể thật hơn, của những con người không thể thật hơn, như cuộc sống quanh mình vậy. Khán giả là người tự diễn giải ngôn ngữ điện ảnh. Ra khỏi rạp, không có nghĩa là ra khỏi bộ phim, họ tiếp tục là người nghĩ, là người đặt ra câu hỏi, là người tự tìm ra câu trả lời cho chính mình.
“Điều quan trọng là nghĩ và cho người xem cơ hội được nghĩ. Ở Iran, lúc này hơn bất cứ thứ gì chúng tôi cần khán giả nghĩ.” Bởi chọn con đường đó, thay vì đưa quan điểm rõ ràng kiểu phán xét hay buộc tội nhân vật, mà Asghar Farhadi bị chính quyền Iran coi là thụ động và gây khó khăn trong việc phát hành và tham gia liên hoan phim. Dù thế A separation vẫn được nhân dân Iran và khán giả thế giới chào đón nồng nhiệt. Bằng chứng là số đề cử và giải thưởng lớn nhất từ trước đến giờ phim đạt được trong đó có cả liên hoan phim trong nước – điều đối với Asghar Farhadi quan trọng ngang với các liên hoan phim quốc tế: 7 giải các hạng mục trong đó có Đạo diễn xuất sắc nhất ở liên hoan phim Fajr 2011 (Iran), 3 giải trong đó có giải Gấu vàng tại liên hoan phim quốc tế tại Berlin 2011 (Đức), Phim nước ngoài xuất sắc nhất tại Giải phim độc lập Vương quốc Anh 2011, Phim nước ngoài hay nhất tại Quả cầu vàng 2012 (Mỹ), Phim hay nhất tại liên hoan phim Sydney 2011 (Úc), và còn vô cùng nhiều nữa.
Khi nhận tượng vàng Oscar, Asghar Farhadi nói: “[…] Vào lúc này, rất nhiều người Iran trên thế giới đang xem chúng ta và tôi tưởng tượng họ đang rất hạnh phúc. Họ hạnh phúc không vì một giải thưởng quan trọng hay một bộ phim hay một nhà làm phim nào, mà bởi khi những câu chuyện về chiến tranh, sự khép kín, và công kích được trao đổi giữa các chính trị gia, thì tên của đất nước họ, đất nước Iran, được nói đến ở đây qua một nền văn hóa huy hoàng, một nền văn hóa giàu có và cổ kính đã bị vùi dưới lớp bụi dầy chính trị. Tôi tự hào tặng giải thưởng này cho nhân dân đất nước tôi, những con người tôn trọng mọi nền văn hóa và văn minh và khinh thường mọi thù nghịch và oán hận. Cảm ơn các bạn.” Người viết cho rằng A separation là tác phẩm nghệ thuật đỉnh cao, và xứng đáng với vinh quang đã đạt được do vẻ đẹp tự thân chứ không do một mối đồng cảm nhuốm màu chính trị hay tính chất “hương xa” (exotic) nào như nhiều phim sản xuất ngoài Âu-Mỹ được phương tây tung hô.
PS: Cảnh kết cũng đáng tầm kinh điển như cảnh đầu, nhưng thôi ai lại spoil hết ra thế :p


