Showing posts with label Illuminated. Show all posts
Showing posts with label Illuminated. Show all posts

Wednesday, July 30, 2014

PHÁT SINH TÌNH YÊU, 1791 – 1796


Trích Everything is illuminated - Jonathan Safran Foer

(Biên dịch với tình yêu cho đứa con chưa ra đời và nay đã ra đời. 

Mà này đồng chí gì ơi, có định xuất bản không để mềnh còn cho chạy dài kỳ trên đây nào!! :p )


TÊN CHO VAY NẶNG LÃI BỊ THẤT SỦNG Yankel D mang đứa bé về nhà tối hôm ấy. Mình đi nào, hắn nói, lên một bước. Mình tới rồi. Đây là cửa nhà con. Còn đây, đây là nắm cửa ta đang mở này. Còn đây, đây là nơi mình để giày khi mình vào nhà. Còn đây là nơi mình treo áo khoác. Hắn nói với con bé cứ như thể nó hiểu được hắn, không hề to tiếng hay là nhát gừng, và không bao giờ nói những lời vô nghĩa. Đây là sữa ta cho con ăn này. Mua của tay bán sữa Mordechai, rồi một ngày con sẽ gặp thôi. Anh ta lấy sữa từ một con bò, cái việc thật là lạ lùng và rắc rối nếu con nghĩ về nó, thế nên đừng có nghĩ về nó… Đây là tay ta đang vuốt ve mặt con. Có những người thuận tay trái và có những người thuận tay phải. Mình chưa biết con thế nào, bởi vì con chỉ ngồi đó và để ta làm hết cả… Đây là một nụ hôn này. Nghĩa là khi đôi môi chu ra và áp vào cái gì đó, đôi khi là đôi môi khác, đôi khi là má, đôi khi là cái gì đó nữa. Còn tùy… Đây là trái tim ta. Con đang chạm vào đó bằng tay trái, không phải bởi vì con thuận tay trái, dù là có thể lắm chứ, mà là bởi ta đang nắm lấy nó áp vào tim ta. Cái con đang cảm nhận thấy là nhịp đập trái tim ta. Nó giữ cho ta sống.

         Hắn làm một cái giường bằng báo nát tươm trong một cái chảo sâu lòng và nhẹ nhàng đặt nó vào trong lò, như thế con bé sẽ không bị quấy bởi những thứ rơi đổ ở ngoài. Hắn để cửa lò mở, và cứ ngồi hàng giờ trông con bé, như người ta ngồi trông một ổ bánh mỳ phồng lên. Hắn trông ngực con bé nâng lên hạ xuống nhanh liên tiếp như là mấy ngón tay nó nắm vào mở ra, và đôi mắt nó nheo lại chẳng vì lý do gì rõ ràng. Có thể con bé đang mơ chăng? Hắn tự hỏi. Nếu thế, một đứa trẻ có thể mơ thấy gì nhỉ? Chắc nó mơ về kiếp trước, như là mình mơ về kiếp sau. Khi hắn lôi con bé ra cho ăn hoặc chỉ để ôm, khắp người nó xăm đầy chữ in. THỜI KỲ NHỮNG BÀN TAY NHUỘM CUỐI CÙNG CŨNG HẾT! CHUỘT SẼ BỊ TREO! Hoặc, SOFIOWKA BỊ BUỘC TỘI HÃM HIẾP, CÃI RẰNG BỊ ÁM BỞI NIỀM TIN DƯƠNG VẬT, TRỞ NÊN “MẤT KIỂM SOÁT.” Hay là, AVRUM R KHÔNG MAY BỊ TAI NẠN CHẾT TRONG CỐI XAY BỘT, BỎ LẠI MỘT CON MÈO XIÊM BỐN MƯƠI TÁM TUỔI, NÂU VÀNG, TRÒN QUAY, NHƯNG KHÔNG BÉO, CHỦ QUAN MÀ NÓI, CÓ THỂ HƠI BÉO, TRẢ LỜI CHO “METHUSELAH[1],” OK, BÉO PHÁT KHIẾP. NẾU TÌM THẤY, TÙY TÂM GIỮ LẠI.

        Đôi khi hắn đung đưa cho con bé ngủ trong vòng tay mình, đọc con bé từ trái qua phải, và biết mọi chuyện cần phải biết trên đời. Nếu điều gì không được viết lên con bé thì nghĩa là nó chẳng quan trọng với hắn.

        Yankel đã mất hai đứa con, một đứa do bị sốt và đứa kia do cái cối say bột công nghiệp nọ, cái thứ lấy đi mỗi năm một mạng của những người trong làng kể từ khi nó được mở. Hắn cũng mất cả vợ, không phải vào tay thần chết mà vào tay một thằng đàn ông khác. Hắn trở về nhà một buổi chiều từ thư viện và thấy một lời nhắn phủ lên chữ SHALOM! trên tấm thảm ngoài cửa nhà: Em phải làm vậy cho riêng mình.

Lilla F miết đất bằng ngón tay xung quanh một trong những bông cúc của cô. Bitzl Bitzl đứng bên cửa sổ nhà bếp, vờ kỳ cọ cái bàn bếp thật sạch. Shloim W lấp ló qua cái bầu trên của một trong những chiếc đồng hồ cát mà gã không thể chịu rời ra được nữa. Không ai nói gì khi Yankel đọc lời nhắn, và cũng không ai nói gì sau đó, cứ như là sự biến mất của cô vợ hắn chẳng lạ lùng lấy một tí tẹo nào, hay cứ như họ chẳng nhận ra hắn đã từng kết hôn.

Tại sao cô ấy không thể gài nó vào dưới cửa? hắn tự hỏi. Tại sao cô ấy không thể gập nó lại? Nó trông như mọi lời nhắn khác cô ấy vẫn gửi lại, như là, Anh có thể thử sửa cái chuông cửa bị hỏng không? hay là Em sẽ về sớm, đừng lo. Hắn thấy thật lạ là cũng như một lời nhắn nào khác – Em phải làm vậy cho riêng mình – có thể trông y hệt như thế: không mấy quan trọng, nhạt nhẽo, chẳng có gì. Hắn đáng lẽ phải ghét cô vì đã bỏ lại nó trần trụi như vậy, hắn đáng lẽ phải ghét cô bởi sự trần trụi ấy, một thông điệp chẳng có lấy một chút cố gắng cho bắt mắt nào, chẳng có lấy một dấu hiệu rằng vâng, nó quan trọng, vâng, nó là lời nhắn đau đớn nhất mà tôi từng viết ra đấy, vâng, tôi thà chết còn hơn là phải viết nó ra lần nữa. Đâu rồi những giọt nước mắt đã khô? Đâu rồi sự xao động trong nét chữ?

Nhưng vợ hắn là mối tình đầu và duy nhất, và bản chất của những người dân sống trong ngôi làng bé nhỏ là tha thứ cho những mối tình đầu và duy nhất của họ, nên hắn ép mình phải hiểu, hoặc vờ như hiểu. Hắn không bao giờ trách cô lấy một lần vì đã bỏ đi Kiev với một tay nhân viên nhà nước rậm râu đi ngang qua, cái gã được gọi vào giúp hòa giải kiện tụng rối beng trong một vụ ra tòa đáng xấu hổ của Yankel; tay nhân viên nhà nước có lẽ đã hứa lo toan cho tương lai cô, mang cô rời xa mọi thứ, đưa cô đến sống một nơi yên tĩnh hơn, không phải lo nghĩ, không phải xưng tội, hay là giàn xếp miễn giảm tội. Không, không phải thế. Mà là không có Yankel. Cô ấy muốn ở đâu không có Yankel.

Hắn mất vài tuần sau đó để khóa lại những cảnh tay nhân viên nhà nước đè ngửa vợ hắn ra. Trên sàn cùng với những thứ gia vị bếp núc. Đứng, chân vẫn mang tất. Trên cỏ trong sân ngôi nhà mới rộng mênh mông của chúng nó. Hắn tưởng tượng ra cô la hét như chưa bao giờ la hét cho hắn nghe và thấy sướng như chưa bao giờ hắn làm cho cô được sướng bởi vì tay nhân viên nhà nước kia là một thằng đàn ông, còn hắn không phải là một thằng đàn ông. Không biết nàng có thổi kèn cho thằng kia không nhỉ? hắn tự hỏi. Mình biết ý nghĩ này thật ngốc nghếch, một ý nghĩ chỉ làm mình đau, nhưng mình không thể thoát khỏi nó. Và khi nàng thổi kèn cho gã, vì nàng buộc phải thế, khi ấy gã làm gì? Gã có kéo tóc nàng ra để xem không? Gã có sờ ngực nàng không? Gã có nghĩ đến ai khác khi ấy không? Mình sẽ giết nếu gã dám thế.

Cả làng vẫn nhìn – Lilla vẫn nghịch ngón tay, Bitzl Bitzl vẫn kỳ cọ, Shloim vẫn vờ đo thời gian bằng cát – hắn gập lời nhắn thành hình giọt nước mắt, gài vào ve áo, và đi vào trong.

Hắn không thể sống nổi nữa, nhưng cũng không thể chết nổi. Hắn không thể chịu nổi ý nghĩ cô làm tình với ai khác, nhưng hắn cũng không chịu nổi thiếu vắng ý nghĩ ấy. Còn về phần lời nhắn kia, hắn không chịu nổi việc giữ nó, cũng không chịu nổi việc hủy nó đi. Thế nên hắn thử làm mất nó. Hắn để nó trong những cái chân nến rỏ sáp, đặt nó giữa những bánh matzo mỗi kỳ lễ Quá Hải, vứt nó mà không nhìn lẫn trong những giấy rác trên bàn bừa bãi, hy vọng nó không còn đó khi hắn về. Nhưng nó luôn luôn ở đó. Hắn thử vò nó bên ngoài túi áo khi ngồi trên ghế băng trước đài phun nước có nàng tiên cá cúi đầu, nhưng khi hắn cho tay vào túi tìm khăn tay, nó lại ở đó. Hắn giấu nó như cái đánh giấu sách trong một những quyển mà hắn ghét nhất, nhưng lời nhắn lại xuất hiện vài hôm sau trong những trang của một trong những quyển sách Tây mà chỉ có mình hắn trong làng là đọc, một trong những quyển sách mà lời nhắn đã ngăn hắn đọc mãi mãi. Nhưng cũng như là đời mình, vì đời mình hắn không thể mất lời nhắn ấy. Nó vẫn cứ trở lại. Nó ở lại với hắn, như một phần của hắn, như một cái bớt bẩm sinh, như một bộ phận cơ thể, nó nằm ngay trên hắn, trong hắn, hắn, thánh ca của hắn: Em phải làm vậy cho riêng mình.

Dần dần hắn mất nhiều giấy, rồi chìa khóa, rồi bút, rồi áo sơ mi, kính, đồng hồ, đồ bạc. Hắn mất một chiếc giày, những chiếc gài cổ tay áo ngọc opal hắn thích nhất (người Khom lưng điệu bằng tay áo nở bung xòe), ba năm cách xa Trachimbrod, có hàng triệu ý tưởng hắn muốn viết lại (một số hoàn toàn độc đáo, một số có ý nghĩa sâu sắc), tóc hắn, vị trí hắn, song thân, hai đứa bé, một vợ, một khoản dắt túi khá khẩm, cơ hội vô vàn không đếm xuể. Hắn còn mất đến cả tên: hắn từng là Safran trước khi rời làng, Safran từ khi ra đời tới khi chết. Có vẻ như chẳng còn gì hắn không thể mất nữa. Nhưng cái mảnh giấy ấy không biến mất bao giờ, và cả hình ảnh về cô vợ mình nằm vật ra cũng thế, và cả ý nghĩ rằng cuộc đời hắn sẽ được cải thiện đáng kể nếu như hắn có thể chấm dứt nó.

Trước vụ án, Yankel-rồi-Safran được ngưỡng mộ vô điều kiện. Hắn là chủ tịch (và quản lý tài chính và thư ký và thành viên duy nhất) của Hội đồng Khá Mỹ Thuật và Mỹ Thuật, và là người sáng lập, thủ trưởng đa nhiệm kỳ, và giảng viên duy nhất của Trường dậy trở nên Quý tộc hơn, đặt trong nhà hắn và các buổi học do chính Yankel tham dự. Không lạ lùng gì khi một gia đình phải tổ chức bữa tối nhiều món nhân danh hắn (nếu không nhân sự có mặt của hắn), hay là khi một trong những thành viên khá giả của cộng đồng đưa một nghệ sỹ lãng du tới vẽ một bức chân dung hắn. Và những bức chân dung ấy luôn luôn tuyệt vời. Hắn là một kẻ mà ai cũng ngưỡng mộ mà thích thú nhưng không ai biết rõ. Hắn như cuốn sách mà bạn hài lòng có được, mà bạn có thể nói về nó dù chẳng đọc bao giờ, mà bạn có thể khuyên dùng.

Theo lời khuyên của thày cãi riêng, Isaac M, người thường ra dấu ngoặc kép trích dẫn trong không khí đối với mỗi âm tiết của mỗi từ mình nói, Yankel nhận tội cho cho tất cả những cáo buộc về hành vi không phù hợp, với hy vọng rằng điều này sẽ làm nhẹ bớt hình phạt. Cuối cùng thì hắn mất giấy phép cho vay nặng lãi. Còn hơn cả chuyện giấy phép nữa. Hắn mất tên tuổi, điều mà, như người ta nói, duy nhất tệ hơn cả mất đi sức khỏe. Người qua đường cười vào hắn hoặc lầm rầm trong hơi thở những cái tên như dối trá, lừa đảo, chó ghẻ, khốn nạn. Hắn đáng lẽ không bị ghét đến thế nếu như trước kia hắn không được yêu thích đến vậy. Nhưng theo Giáo sỹ Vườn-Phong phú và Sofiowka, hắn là một trong những trụ cột của cộng đồng – rất âm thầm – và đến với hắn cùng nỗi nhục là cảm giác mất thăng bằng, một nỗi trống hoác.

Safran chuyển qua vài làng lân cận, tìm một chân giáo viên về lý thuyết và trình diễn đàn harpsichord, tư vấn nước hoa (vờ điếc và mù để hợp pháp hóa việc thiếu thư giới thiệu), hay thận chí lâu lâu không may thì là một gã thày bói dở nhất thế giới – Tôi sẽ không nói dối mà bảo quý vị rằng tương lai đầy hứa hẹn đâu… Hắn tỉnh dậy hàng sáng với một khát vọng được làm điều phải, được làm người tốt và có ý nghĩa cho đời và, đơn giản như có vẻ thế nhưng bất khả như thực sự là thế, được hạnh phúc. Rồi đến quãng giữa mỗi ngày trái tim hắn trùng từ ngực xuống đến bụng. Tới đầu giờ chiều hắn chìm đắm trong cảm giác rằng không gì đúng cả, không gì đúng đắn đối với hắn, và khát khao được cô đơn. Đến tối hắn được cô đơn trong nỗi buồn đầy ăm ắp, cô đơn trong nỗi dằn vặt không chủ đích, cô đơn trong chính nỗi cô đơn riêng mình hắn. Mình không buồn, hắn có thể lặp đi lặp lại nữa và mãi, Mình không buồn. Như thể một ngày hắn có thể làm chính mình tin vậy. Hoặc phát điên. Hoặc làm người khác tin vậy – điều duy nhất tệ hơn cả buồn là để cho người khác biết rằng mình buồn. Mình không buồn, mình không buồn. Bởi đời hắn đã có tiềm năng hạnh phúc vô biên, rộng hơn nữa thì nó như một căn phòng trắng trống rỗng. Hắn có thể ngủ thiếp đi với trái tim rớt dưới chân giường, như một con thú thuần hóa nào đó chẳng liên quan gì đến hắn cả. Và mỗi sáng hắn lại tỉnh dậy thấy nó nằm trong cái tủ bộ khung xương sườn hắn, đã thành ra nặng hơn một chút, yếu hơn một chút nhưng vẫn đập thùm thụp. Rồi đến giữa chiều hắn lại chìm đắm trong khát vọng được ở nơi nào khác, được là ai đó khác, một ai khác ở nơi nào khác. Mình không buồn.

Sau ba năm hắn trở về làng – Mình là mảnh bằng chứng cuối cùng cho thấy mọi công dân ra đi đều trở lại – và sống một cuộc sống lặng lẽ như một kẻ Khom lưng bên lề, bị khâu vào tay áo của Trachimbrod, bị ép đeo cái tràng hạt khủng khiếp quanh cổ làm dấu cho nỗi nhục của hắn. Hắn đổi tên thành Yankel, tên của tay nhân viên nhà nước đã chuồn đi cùng với vợ hắn, và yêu cầu không ai được gọi hắn là Safran bao giờ nữa (mặc dù hắn nghĩ là vẫn nghe thấy cái tên đó lúc này lúc khác, thì thào sau lưng mình). Rất nhiều khách hàng cũ quay lại với hắn, và trong khi họ từ chối trả lãi tới hạn, hắn vẫn có thể gây dựng lại nơi ngôi làng chôn rau cắt rốn – như những người từng ly khai cuối cùng vẫn cố gắng vậy.

Khi những người đàn ông mũ đen đưa hắn đứa bé, hắn thấy như chính mình cũng chỉ là một đứa bé con, có một cơ may được sống không tủi nhục, không có nhu cầu được an ủi cho một đời sống lầm lỗi, một cơ may lại được vô tội, được hạnh phúc một cách đơn giản và bất khả. Hắn đặt tên con bé là Brod, theo tên dòng sông nơi bé bí ẩn ra đời, cho bé một dây vòng cổ riêng, làm bằng hạt gỗ bé xíu, để con bé không bao giờ cảm thấy lạc lõng trong cái gọi là gia đình mình.

Khi bà cố-cố-cố-cố-cố của tôi lớn lên, tất nhiên, bà chẳng nhớ gì và cũng chẳng được kể cho nghe điều gì. Yankel bịa ra chuyện về cái chết trẻ của mẹ - không đau đớn, trong khi sinh – và trả lời vô vàn câu hỏi nảy ra theo cách hắn cho là làm con ít đau buồn nhất. Chính là mẹ đã tặng cho con đôi tai to xinh đẹp ấy. Chính là tính hài hước từ mẹ mà bọn con trai ngưỡng mộ con đến vậy. Hắn kể cho Brod nghe những chuyến đi nghỉ mà hắn và vợ đã ở bên nhau (khi nàng lấy cái giằm trong gót chân hắn ra ở Venice, khi hắn phác họa bằng chì đỏ chân dung nàng trước đài phun nước cao ở Paris), cho con bé xem những bức thư tình họ gửi cho nhau (những bức hắn viết bằng tay trái là của mẹ Brod), rồi đặt con bé vào giường và kể đủ thứ chuyện về mối tình lãng mạn của họ.

Có phải là tình yêu sét đánh không, ba Yakel?
Ba yêu mẹ con từ trước cả khi nhìn thấy nàng kìa – chính là mùi của nàng đấy!
Kể lại cho con mẹ trông thế nào đi.
Mẹ giống con. Mẹ đẹp, với hai mắt khác màu nhau, như con. Một xanh dương, một nâu, như mắt con. Mẹ cũng có gò má cao và da mịn như con ấy.
Quyển sách nào mẹ thích nhất?
Genesis, tất nhiên.
Mẹ có tin vào Chúa không?
Mẹ con không bao giờ nói với ta cả.
Ngón tay mẹ dài chừng nào?
Chừng này này.
Thế còn chân?
Như thế này này.
Kể lại cho con mẹ thổi vào mặt ba thế nào trước khi mẹ hôn ba đi.
Ờ thì như thế thôi, mẹ thường thổi vào môi ba trước khi hôn ba, cứ như ta là món ăn nóng hổi mà mẹ con sắp ăn ấy!
Mẹ vui tính không? Vui tính hơn con không?
Mẹ là người vui tính nhất trên đời. Y như là con ấy.
Mẹ đẹp không?

Điều không tránh được là: Yankel trở nên yêu người-chưa-bao-giờ-là-vợ của mình. Hắn có khi tỉnh dậy và nhớ nhung trọng lượng chưa bao giờ đè nặng lên phần giường bên cạnh hắn, nhớ nhung rất nghiêm túc sức nặng những cử chỉ nàng chưa bao giờ làm, cả phần phi trọng lượng của phi cánh tay quàng qua bộ ngực quá thật của hắn, khiến cho những sự nhớ nhung góa bụa này còn thuyết phục hơn, và nỗi đau của hắn còn thật hơn nữa. Hắn thấy như hắn mất nàng. Hắn đã mất nàng. Đêm đêm hắn còn đọc lại những bức thư nàng chưa bao giờ viết cho hắn.

Yankel yêu thương nhất,
Em sẽ về nhà với mình sớm thôi, như vậy nghĩa là anh không còn phải nhớ em nhiều quá nữa, dù điều ấy có ngọt ngào đến mấy. Mình thật ngốc. Mình có biết không? Mình có biết mình ngốc đến chừng nào? Có thể vì thế mà em yêu mình đến vậy, bởi em cũng ngốc nghếch mà.
Mọi thứ ở đây đều tuyệt vời. Trời rất đẹp, đúng như mình hứa với em ấy. Mọi người đều rất dễ thương, em ăn rất ngon, em nhắc đến chuyện này vì mình lúc nào cũng cứ lo em không chăm sóc tốt bản thân mình. Em có mà, nên đừng lo nữa nhé.
Em nhớ mình thật nhiều. Đến mức không chịu nổi nữa. Mỗi giây phút mỗi ngày em nghĩ tới sự thiếu vắng mình, điều ấy gần như giết em vậy. Nhưng tất nhiên em sẽ về với mình sớm thôi, và sẽ không còn phải nhớ mình nữa, và sẽ không còn phải biết tới một thứ, hay mọi thứ, ấy là nhớ thương, rằng cái ở đây chỉ là cái không ở đây. Em hôn gối trước khi em ngủ và tưởng tượng ra đấy là mình. Nghe như một điều mình cũng sẽ làm, em biết mà. Đấy hẳn là lý do khiến cho em làm vậy.

Gần như hiệu quả. Hắn nhắc lại các chi tiết nhiều đến mức gần như không thể phân biệt chúng với sự thật nữa. Nhưng lời nhắn thực vẫn cứ trở lại với hắn, và nó, hắn chắc vậy, đã ngăn không cho hắn có được điều đơn giản và bất khả: hạnh phúc. Em phải làm vậy cho riêng mình. Brod một hôm đã phát hiện ra khi mới có mấy tuổi. Làm thế nào mà nó lại nằm trong túi phải của con bé, cứ như lời nhắn có đầu óc riêng hẳn hoi, cứ như bảy từ ấy có khả năng muốn gây tổn thương thực tại vậy. Em phải làm vậy cho riêng mình. Con bé hoặc là cảm nhận được nó quan trọng lớn lao tới nhường nào hoặc coi nó chẳng chút quan trọng mảy may, bởi chưa khi nào nói ra với Yankel, nhưng lại đặt mảnh giấy trên bàn đầu giường, nơi hắn có thể thấy ngay sau khi đọc bức thư khác không phải của mẹ nó, cũng không phải của vợ hắn. Em phải làm vậy cho riêng mình.
             Mình không buồn.





[1] trong kinh thánh, Methuselah là ông ca Noah, người tương truyn sng ti năm 969 tui (Gen. 5:27), t này còn được dùng đ ch người rt rt già.



Saturday, December 4, 2010

Trích (II)


(Cho em mạn phép tí tẹo thôi ạạạ!!)
THỜI CỦA NHỮNG BÀN TAY NHUỘM
xảy ra không lâu sau những vụ tự sát sai lầm, thời của những bàn tay nhuộm bắt đầu khi bác làm bánh cuộn Herzog J quan sát thấy những chiếc bánh cuộn không được thận trọng để mắt tới là lại thỉnh thoảng biến mất. Bác bèn lặp lại việc quan sát nhiều lần, trong khi xếp bánh cuộn trong cửa hàng bánh ngọt của bác, thậm chí còn đánh dấu vị trí chúng nó bằng bút chì than, thế mà mỗi lần bác quay đi rất nhanh và liếc trộm lại đằng sau, cũng chỉ có mấy cái vạch đánh dấu là còn.
Mấy cái trò trộm cắp này, bác nói.
Vào thời điểm ấy trong dòng lịch sử của chúng ta, Giáo sĩ Kiệt Xuất Fagel F (Xem thêm Phụ lục B: Danh sách các Giáo sĩ Thẳng Lưng) là Trưởng ban thi hành luật lệ. Vậy nên để tiến hành một cuộc điều tra công bằng, cụ coi như mọi người trong làng đều là kẻ tình nghi, có tội cho tới khi chứng minh được điều ngược lại. CHÚNG TA SẼ NHUỘM TAY MỖI CÔNG DÂN MỘT MÀU KHÁC NHAU, cụ nói, VÀ BẰNG CÁCH NÀY SẼ PHÁT HIỆN RA AI ĐÃ THÒ TAY MÌNH SAU QUẦY CỦA HERZOG.
Tay Lippa R nhuộm màu đỏ máu. Tay Pelsa G màu xanh lục nhạt như màu mắt nó. Mica P màu tím phai, như mảnh trời phía trên rặng cây rừng Radziwell khi mặt trời lặn vào lễ Sabbath tháng Mười một năm ấy. Không bàn tay nào hay sắc màu nào được ngoại lệ. Để cho công bằng, ngay cả tay Herzog J cũng bị nhuộm màu hồng của một con bướm Troides helena đặc biệt tình cờ chết trên bàn của Dickle D, nhà hóa học phát minh ra loại thuốc không rửa được, nhưng có thể để lại vết trên bất cứ cái gì bàn tay nhuộm chạm phải.
Và rốt cuộc hóa ra là một con chuột hồn nhiên, cầu cho ký ức của nó gần với một cái bàn tọa kinh tởm, đã lẻn ra với những cái bánh cuộn, và chẳng bao giờ có màu nào xuất hiện đằng sau quầy hàng.
Nhưng chúng xuất hiện khắp mọi nơi khác.
Shlomo V tìm thấy màu bạc giữa hai đùi vợ mình, Chebra, cầu cho hành vi của cô ta độc nhất trên thế giới này và bất cứ thế giới nào khác, mà chẳng nói gì về chuyện ấy cho tới khi cậu ta bôi ngực cô xanh lè bằng tay mình và rồi phủ lên bộ ngực ấy đầy tinh dịch trắng. Cậu ta kéo cô ta thân thể trần truồng qua những con phố màu ghi sáng trăng, từ nhà này sang nhà khác, làm thâm tím mấy cái khớp ngón tay xanh đen trên các cánh cửa. Cậu ta ép cô xem mình cắt đôi tinh hoàn của Samuel R, cái gã đưa những ngón tay bạc lên, vật nài xin thương xót và khóc, rất khó hiểu, Có một nhầm lẫn nào ở đây mà. Màu ở mọi nơi. Dấu tay chàm của Giáo sĩ Kiệt Xuất Fagel F trên các trang sách của hơn một quyển tạp chí thế tục quá khích định kỳ. Màu xanh môi tái của bà góa sầu đau Shifrah K trên khắp bia mộ chồng bà trong nghĩa địa làng, như những bản rập bọn trẻ con vẫn làm. Mọi người đều nhanh nhảu buộc tội Irwin P mò mẫm hai bàn tay nâu của hắn ta hết lên lại xuống khắp Đồng hồ Mặt trời. Hắn thật ích kỷ! họ nói. Hắn muốn mọi thứ cho riêng mình hắn thôi! Nhưng đó là tay của họ, tất cả tay bọn họ, một cầu vồng cô đọng của mọi công dân trong làng từng cầu xin những cậu con trai đẹp đẽ, hay thêm vài năm cuộc đời, xin được bảo vệ khỏi sét đánh, hay là xin tình yêu.
Làng được tô màu bằng những hành vi của công dân trong làng, và từ khi mọi màu đều được dùng cả - trừ màu quầy hàng, tất nhiên—thật là không thể nào nói được cái gì đã bị tay người chạm phải và cái gì vẫn như thế bởi vì nó vẫn là nó như thế. Có chuyện rêu rao rằng Getzel G đã bí mật chơi vĩ cầm của tay nhạc công vĩ cầm—mặc dù anh ta chẳng chơi vĩ cầm bao giờ!—chỉ vì những cái dây vĩ cầm có màu tay anh ta. Mọi người kháo nhau rằng Gesha R hẳn là đã trở thành diễn viên leo dây—nếu không thì làm sao mà cái ranh giới kiến tạo Do Thái/Người lại thành màu vàng như là tay chị ta được? Và khi vẻ ngượng ngùng ửng trên má một cô học trò bị nhầm lẫn với màu ửng đỏ của những ngón tay một kẻ mộ đạo thì cô học trò kia bị gọi ngay là gái mất nết, đồ đĩ điếm, đồ buông thả.


ĐẠO Ý
Cain đã giết em trai vì đạo văn một trong những bài thơ nhỏ yêu thích nhất của mình, nó như thế này:
Liễu rủ bạc tóc, hàng dương rung rung,
Những thoảng gió thổi tối mờ xao động
Qua con sóng vỗ hoài vô vọng
Bên bờ đảo trong sông.[1]
Bất lực không ngăn trở được cơn giận của một nhà thơ bị khinh rẻ, bất lực không tiếp tục viết được cho tới chừng nào anh ta biết rằng những tên cướp biển pens-sans sẽ thu được chiến lợi phẩm từ công việc nặng nhọc của mình, bất lực không kìm nén nổi câu hỏi Nếu những vần thơ nhịp đôi không phải là dành cho ta, vậy thì cái gì mới dành cho ta?, anh ta, Cain bất lực, bèn chấm dứt hành động ăn cắp văn chương mãi mãi. Hoặc anh ta tưởng là vậy.
Nhưng thật ngạc nhiên làm sao cho anh ta, chính Cain mới bị đánh đòn, Cain mới bị nguyền rủa lao động dưới mặt đất, Cain mới bị ép phải mang cái dấu hiệu khủng khiếp, Cain, vì tất cả thơ thẩn buồn rầu và dí dỏm của mình, mà phải nằm vật ra hàng đêm, nhưng không biết đến một ai có đọc một trang nào về tác phẩm quan trọng nhất của mình.
Vì sao vậy?
Chúa yêu kẻ đạo ý. Và điều này đã được viết, “Chúa tạo ra nhân loại từ hình ảnh của Người, trong hình ảnh của Chúa Người tạo ra họ.” Chúa là kẻ đạo ý nguyên gốc. Bởi thiếu những nguồn hợp lý để mà chôm chỉa—con người được tạo ra từ hình ảnh của cái gì bây giờ? Thú vật chăng?—việc tạo ra con người chính là một hành vi ăn cắp ý tưởng phản thân; Chúa cướp lấy từ cái gương. Khi chúng ta đạo ý, cũng như vậy chúng ta sáng tạo ratrong hình ảnh đó và đồng thời tham gia vào quá trình hoàn thiện của việc Sáng tạo.
Con có phải là vật liệu làm ra em con không?
Tất nhiên, Cain, tất nhiên.

613 NỖI BUỒN CỦA BROD
Phần bách khoa toàn thư về nỗi buồn sau đây được tìm thấy trên cơ thể Brod. Nguyên bản 613 nỗi buồn, được viết trong nhật ký của cô, tương đương với 613 điều răn trong kinh Torah của chúng ta (không phải của chúng nó). Những nỗi buồn được nêu dưới đây là những phần cứu được sau khi Brod hồi phục. (Những trang nhật ký ướt của cô đã in những nỗi buồn lên cơ thể cô. Chỉ có một phần nhỏ [55] là đọc được. 558 nỗi buồn kia bị mất mãi mãi, và hy vọng rằng, bởi không biết về chúng, không ai phải trải nghiệm chúng nữa.) Cuốn nhật ký đó không bao giờ được tìm thấy.
NHỮNG NỖI BUỒN VỀ CƠ THỂ: nỗi buồn cái gương; Nỗi buồn [trông] giống hoặc không giống cha mẹ mình; Nỗi buồn không biết cơ thể mình có bình thường không; Nỗi buồn khi biết [cơ thể] mình không bình thường; Nỗi buồn khi biết cơ thể mình bình thường; Nỗi buồn sắc đẹp; Nỗi buồn tra[ng đ]iểm; Nỗi buồn cơn đau thể xác; [Nỗi buồn tê] rần như kim châm; Nỗi buồn quần áo [sic]; Nỗi buồn mí mắt rung; Nỗi buồn bị thiếu một xương sườn; [Nỗi] buồn dễ nhận ra; Nỗi buồn khi không được chú ý; Nỗi buồn có bộ phận sinh dục không giống của người yêu; Nỗi buồn có bộ phận sinh dục giống của người yêu; Nỗi buồn những bàn tay…
NHỮNG NỖI BUỒN GIAO ƯỚC: Nỗi buồn tình yêu Chúa, Nỗi buồn Chúa trở về [ sic]; Nỗi buồn đứa con cưng; Nỗi buồn vì [đan]g buồn trước Chúa của mình; Nỗi buồn đối lập với lòng tin [sic]; Nỗi buối Nếu như?; Nỗi buồn Chúa cô đơn trên thiên đường; Nỗi buồn vì Chúa luôn cần người cầu nguyện mình…
NHỮNG NỖI BUỒN THÔNG THÁI: Nỗi buồn bị hiểu nhầm [sic]; Nỗi buồn hài hước; Nỗi buồn khi tình yêu k[hôn]g giải thoát; Nỗi b[uồn là ng]ười thông minh; Nỗi buồn không biết đủ từ để [diễn đạt điều muốn nói]; Nỗi buồn có nhiều lựa chọn; Nỗi buồn muốn được buồn; Nỗi buồn bối rối; Nỗi buồn vì những con chim n[uô]i; Nỗi buồn kế[t th]úc một cuốn sách; Nỗi buồn vì nhớ được; Nỗi buồn vì quên mất; Nỗi buồn lo âu…
NHỮNG NỖI BUỒN TƯƠNG GIAO CÁ NHÂN: Nỗi buồn vì đang buồn trước mặt cha mẹ mình; Nỗ[i bu]ồn tình vờ; Nỗi buồn tình yêu [sic]; Nỗi buồn tình bạn; Nỗi buồn vì một cuộc nó[i ch]uyện dở; Nỗi buồn vì cái đáng-lẽ-ra; Nỗi buồn có bí mật…
NHỮNG NỖI BUỒN VỀ TÌNH DỤC VÀ NGHỆ THUẬT: Nỗi buồn thức giấc trong trạng thái cơ thể không bình thường; Nỗi buồn khi cảm thấy cần phải tạo ra những thứ đẹp đẽ; Nỗi buồn hậu môn; Nỗi buồn ánh mắt chạm nhau khi đang khẩu dâm; Nỗi buồn khi hôn; Nỗi buồn cử động quá nhanh; Nỗi buồn không cử [độ]ng; Nỗi buồn người mẫu khỏa thân; Nỗi buồn vẽ chân dung; Nỗi buồn tác phẩm đáng giá nhất của Pinchas T, “Gửi Cát bụi: Ngươi đã Đến từ Người và Ngươi sẽ Trở Lại với Người,” biện luận rằng về lý thuyết thì cuộc sống và nghệ thuật rất có thể đảo ngược…


[1] Thực ra là trích đon bài thơ The Lady of Shalott ca Alfred Lord Tenneyson (1809-1892)
Willows whiten, aspens quiver,
Little breezes dusk and shiver
Through the wave that runs for ever
By the island in the river

Everything is illuminated - Jonathan Safran Foer

Tuesday, November 16, 2010

Trích


CHÚNG TA, NGƯỜI DO THÁI
Người Do Thái là những thứ Chúa yêu. Vì hoa hồng thật đẹp, chúng ta phải coi đó là bởi Chúa yêu hoa hồng. Do vậy, hoa hồng là Do Thái. Theo cách lập luận như vậy, những ngôi sao và các hành tinh là Do Thái, tất cả trẻ em đều là Do Thái, “nghệ thuật” xinh xẻo là Do Thái (Shakespeare không phải Do Thái, nhưng Hamlet thì đúng), và tình dục, khi được thực hiện giữa chồng và vợ trong một tư thế ngoan và phù hợp, thì là Do Thái. Thế nhà nguyện Sistine[1] có phải Do Thái không? Tốt nhất là bạn nên tin thế.
THÚ VẬT
Thú vật là những thứ Chúa thích nhưng không yêu.
CÁC ĐỒ VẬT TỒN TẠI
Đồ vật tồn tại trên đời là những thứ mà Chúa thậm chí còn chẳng thích.
CÁC ĐỒ VẬT KHÔNG TỒN TẠI
Các đồ vật không tồn tại thì không tồn tại. Nếu chúng ta định tưởng tượng ra một thứ như là một đồ vật chưa hề tồn tại, đó có thể là thứ mà Chúa ghét. Đây là lý lẽ mạnh mẽ nhất chống lại bọn vô thần. Nếu Chúa không tồn tại, hẳn là Người phải ghét bỏ chính mình, mà như thế thì hiển nhiên vô nghĩa.



[1] Sistine Chapel là nhà nguyn nổi tiếng nht trong Cung đin Apostolic, Vatican, nơi ca Giáo Hoàng Công giáo.

Everything is illuminated - Jonathan Safran Foer