Friday, July 31, 2009

Cuối tuần

1. Philip K. Dick.
Trong tay có quyển Ce que disent les morts (dịch từ What the dead men say trong Worlds of Tomorrow), Folio giá 2 euros, mỏng dính du lịch. Thế nhưng mà cứ cầm lên đặt xuống mấy lần khinh khi không đọc. Hôm qua mới lọ mọ ngồi xem mải miết Minority Report tử tế từ đầu chí cuối, chí cả đĩa bonus Making the movie đê mê phê tới tận 4h sáng, phát hiện ra Philip K. Dick từ đây.
Chuyện là trong khi đóng phim hình như là Eyes wide shut (Stanley Kubrick), Tom Cruise đọc được Minority Report thích quá bèn giới thiệu với Steven Spielberg. 3 năm sau họ cùng nhau làm phim này.
Có một nước Tây Âu nào đó trong luật có kiểu tư duy thế này: bạn có tội cho tới khi bạn chứng minh được mình vô tội.
Còn Minority Report thì đặt ra câu hỏi: What would you do if you were accused of a murder, you had not committed... yet? Câu chuyện diễn ra năm 2054 khi các pre-cogs có thể tiên tri rằng kẻ nào sắp giết ai, và thế là đội precrime lao tới ngăn chặn và nhốt lại những kẻ sẽ giết người trong tương lai kia với đầy đủ bộ lệ dụng cụ tối tân mà các filmmaker đồ rằng sẽ có thật trong nửa thế kỷ tới.
Trong phim Spielberg vinh danh các nhà làm phim noir trong những năm 1930, 1940 trong bối cảnh tương lai, bằng màu sắc, và phong cách rất noir. Bản thân truyện của Philip K Dick đã đầy chất uncertainty rồi, thêm cách kể của đạo diễn nữa đâm ra một đứa chẳng thích thú mấy sci-fi như mình cũng bị hút chặt vào liền tù tì.

Một ví dụ (không liên quan) về những chi tiết bé tí xíu xiu rất thích ở những nhà làm phim to đùng như thế này: Trong khi anh Tom Cruise đẹp trai nhiệt tình được đồng nghiệp khen ngất giời mỗi tội diễn vô cảm trong vai Anderton miết mải tìm cách chứng minh là mình vô can, Collin Farrell trong vai Danny Witer rượt theo truy lùng có hỏi đồng sự Chúng mình còn bao lâu nhỉ? (nghĩa là bao lâu cho tới khi Anderton phạm tội như tiên đoán), câu trả lời là 51 phút 28 giây: đây cũng chính là thời gian còn lại của bộ phim tính cho tới lúc credits phim chạy ra.
Luyên thuyên một hồi mới nhớ ra là muốn nói đến Philip K Dick. Bác này mãi tới khi chết rồi mới danh nổi như cồn, truyện lũ lượt được đưa lên thành phim: Blade runner, Total recall, Paycheck, Next và nữa nữa. Cả đời bác lấy và bỏ tầm 5 cô vợ, ra vào bệnh viện liên tục, phụ thuộc thuốc thang, chứng paranoia và có toan tự tử. Mình không mấy mặn mà với sci-fi đặc biệt là trong văn học, vì cái sự có liên quan gì tới tôi đâu, vì cái sự không chạm được sờ mó được của nó, vì cái cảm giác vô vị luẩn quẩn. Mà đúng thật là có mấy sci-fi làm cho khóc nức hoặc cười chí lí đâu?!
Thế mà lần này thì mê muội Minority Report và yêu thích cả bác nhà văn (kiêm nhà thơ) lẫn bác đạo diễn ra mặt vì sci-fi của các bác rất xã hội và rất con người.
Một vài phim sci-fi không thể không thích thú:
Các phim sci-fi của Kubrick, Brazil (terry Guilliam), 12 Monkeys (lại Terry Guilliam), E.T. (Spielberg), A.I. (Spielberg), Prestige (Christopher Nolan ), Star Trek (J.J. Abrams), Wall.E (Andrew Stanton), The Matrix (Wachowski), Children of Men (Alfonso Cuarón), ... and many more...

2. Philippe Claudel
Le rapport de Brodeck của bác xuất bản từ tận năm 2007, review có vẻ hay ho mà giờ mới nghe tới do lang thang vớ được giới thiệu bản dịch tiếng Anh (hơi) mới ra: Brodeck's Report.
Lại một tác phẩm về sự uncertaincy, xuyên suốt "bản báo cáo" về kẻ sống sót từ trại tập trung Nazi.

3. Cuối tuần nên đóng cửa đọc sách xem phim chăng?

Monday, July 27, 2009

Thắc mắc

Trong lòng bực tức anh ách bấy lâu, không biết cách nào giải tỏa.

1. Trong bản tin thời sự lúc 19h cách đây 3 ngày, nếu không nhầm thì là thứ 5 ngày 23 tháng 7, có phóng sự nói về Lào Cai (hay đâu đó không nhớ chính xác) nổi lên phong trào nuôi trâu. Những phóng sự kiểu này là những cái thiếu tin quá đành phải đưa lên.
Một bản tin thời sự 19h cần phải dài 30 phút, 5 đến 10 là tin quốc tế, nghĩa là 20 đến 25 phút là tin trong nước. Khi nào có cụ nào đi công du tư du thăm hỏi quan chức nước nào đặc biệt là các nước cộng sản anh em, hoặc có nước nào rồng đến nhà tôm hoành tráng đón chào thì coi như mừng húm, bởi vì riêng các phần tung hô những vị ấy và công lao dâng hiến cho tình hữu nghị hai bên cũng đã chiếm quá bán bản tin rồi. Những thông tin kinh tế văn hóa còn lại có tí teo, gói gọn trong khánh thành cái gì ở đâu lễ hội ra làm sao quy mô to tận ngần nảo ngần nào...
Thế nhưng mà một năm 365 ngày tin tức, không thể cứ các đoàn đại biểu thăm nhau mãi được, nên cũng phải nặn/rặn ra tin. Khi nào thừa sóng thì tin vùng sâu vùng xa tình hình đời sống nhân dân cải thiện sẽ được đẩy thật là mạnh. Một cái tin nuôi trâu sẽ gồm các phần cơ bản thế này:

- Huyện nào tỉnh nào đẩy mạnh phát triển nuôi trâu
- Đời sống bà con khấm khá
- Phát biểu của 2, 3 nông dân trong xã chứng minh sự khấm khá tranh thủ đội ơn Đảng ơn Chính Phủ
- Phát thanh viên đại diện nói lên nguyện vọng toàn dân mong rằng mô hình này được nhân rộng ở đây ở kia.

Cái tin chính nó là như vầy, nhưng cái hôm có tin nuôi trâu kia có mấy chi tiết làm dấy lên niềm thương tiếc hơn 2 phút sóng của nhà đài vô tận.
Thứ nhất, làm sao mà phải cố nhét vào một cái tin phát triển nuôi trâu cái câu "noi theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh"?
Thứ hai, làm sao mà cơ quan ngôn luận của Đảng và Nhà nước lại đi tuyên truyền sai kiến thức cho 86 triệu dân xem ti vi giờ ăn cơm rằng là "nuôi trâu rẽ nghĩa là con trâu nó rẽ vào nhà ai thì nhà ấy thoát nghèo."? Nghe câu này xong cứ muốn ...chửi bậy. Hic. Phóng viên nhà đài mà không biết nuôi trâu rẽ nghĩa là nuôi trâu thuê, người nuôi con trâu cái đến kỳ nó đẻ sẽ được nhận nghé lứa thứ 2 về coi như trả công nuôi thuê từ bấy. Ấy thế mà cứ khơi khơi giảng giải trên ti vi như thế, như thế... Quá sợ.
Thứ ba, trước mỗi lời người được phỏng vấn trình bày, các bạn biên tập viên viết cho các bạn phát thanh viên đọc trước trọn vẹn ý (thậm chí không khác lời) của nhân chứng sắp tuôn ra là vì sao?
Ví dụ thế này:
PTV - Như vậy là nhờ có phát triển nuôi trâu, từng hộ gia đình trong thôn cùng nhau khấm khá dần lên, các cháu được đến trường, không còn sợ không có cái chữ (sic) nữa.
Anh nông dân A - Từ khi chúng tôi thực hiện nuôi trâu rẽ theo chỉ đạo hướng dẫn của xã, gia đình tôi đã khá lên, có đồng ra đồng vào, con tôi cũng được đi học, gia đình tôi không còn sợ đói, sợ mù chữ nữa.
Thứ tư, trong cơn không biết làm gì với tư liệu quay và lời bình, các bác BTV cứ đi tả lại cái gì có trên hình cho bà con nghe lại lần nữa, vì sợ bà con không hiểu mình đang nhìn gì, hay đây là phương pháp nhấn mạnh tấn công thính giác và thị giác đồng thời?

2. Từ lúc mới lớn lên một tí, lẫm chẫm bò, thích nhìn tranh và đôi lúc xé tranh, mẹ đã mua cho quyển truyện Thánh Gióng có hình minh họa và thậm chí phụ đề tiếng Anh. Rồi đến khi đi học, trong môn văn (hình như thế) không rõ lớp mấy mình lại được học truyền thuyết Phù Đổng Thiên Vương - ông Gióng cưỡi ngựa bay lên giời ở Sóc Sơn. Đến cuối cấp 2 thì không có lớp nào là không bị/được đi thăm đền Gióng cả một ngày hò hét leo trèo đuổi bắt khắc tên ai nớp viu nhí nhố. Thế là trong tiềm thức của mình, Thánh Gióng rõ ràng phải là Thánh Gióng chứ không thể nào là Thánh Dóng. Thì là bởi vì làng Phù Đổng nơi sinh ra cậu bé 3 tuổi biết đánh giặc có tên nôm là làng Gióng.
Thế mà không hiểu làm sao các bác rỗi hơi "trên Bộ" lại đưa ra lý thuyết mới Thánh Gióng phải là Thánh Dóng cơ. Các bác nhàn cư vi bất thiện, muốn viết lại truyền thuyết, thế các cháu phải làm thế nào?

3. Quay lại với mấy chương trình kỷ niệm 27/7 trên ti vi:
Vở (chẳng biết gọi là vở gì, kịch? ca kịch? tạp kỹ?) Hang Tám Cô tối thứ 7 ngày 25/7 dựng lại sự kiện năm 72, trên tuyến đường 20 Quảng Bình, 4 cô và 4 anh bộ đội vào trong hang tránh bom bị bom lấp cửa hang và hy sinh trong ấy. Vấn đề là ở cái vở kịch: kitsch, và bịa đặt.
Cái vở chẳng biết gọi là vở gì kia đưa thêm vào chi tiết đứa bé bị bỏ rơi trong hang không biết ở đâu ra làm cho người xem bán tín bán nghi chẳng hiểu đấy là sự thật mới được khai quật, hay là nhà biên kịch nào vui tay viết vào cho thêm phần lâm ly??! (Mà nếu có thế thì cũng phải chú thích cái gì thật cái gì phóng tác chứ lị.)
Cái kitsch thì phơi bày ra đấy, chẳng cần phải bàn.

Cuối tuần thật là ...haizzzzzz

PS: Mình yêu quý bộ sách Chuyện Đông Chuyện Tây của cụ An Chi nhưng mà lại chỉ có từ tập 2 tới tập 6. Mình băn khoăn không biết ai có tập 1 và sau tập 6 (hình như là có tập 7 nữa thì phải) có thể cho mình mượn (photocopy) hoặc mua (lại) hoặc xin (xỏ) không nhỉ?? Hic hic
Đội ơn các nhà hảo tâm... :)

Friday, July 17, 2009

Thế là xong (một ít)

Thế là xong một số thứ thế này...

1. Ngầm (Haruki Murakami)
- Quyển đầu tiên non-fiction của bác (mà mình được đọc). Ấn tượng rơi rớt cũng kha khá, nhưng cái câu đề từ "Thảm kịch sarin và sự trống rỗng trong lòng thịnh vượng" là nhất rồi, vì nó tóm tắt hết cả quyển vào một câu rồi còn đâu:
Thứ nhất là sarin - với đầy đủ hai mặt "bên này" và "bên kia", "phe này" và "phe kia" của vụ rải khí độc;
thứ 2 là thịnh vượng - với những người Nhật từ giám đốc đến nhân viên lũ lượt đi làm sớm trung bình 1 tiếng so với giờ quy định, những tận tụy của người lao động bình thường lẫn kẻ cuồng tín cực đoan;
thứ 3 là trống rỗng - cái sự trống rỗng trong quan hệ người với người, của người bị trúng độc xây xẩm nằm ngất trong ánh mắt không phải chuyện của tôi của người qua đường, quan hệ gia đình cùng xã hội, tôi chỉ là outsider và chán ghét tất cả, trong quan hệ tôi với chính tôi, muốn siêu thoát nhưng không biết siêu đi đâu.
- một câu hỏi lơ lửng không được giải nghĩa dứt khoát rõ ràng cho động cơ khiến Aum đi giết 15 người và làm bị thương 5000 người (không thể đơn thuần là ra tay giúp những người trần này về cõi cực lạc), và tại sao có nhiều thành viên gia nhập đến thế, thậm chí còn xuất gia hẳn hoi. Họ luôn lý giải việc cố thoát tục rất vòng vèo, đôi khi có lượn gần tới quan điểm của Phật giáo (chán ghét cõi trần dung tục, bể khổ này nọ), nhưng trong những ẩn ức của người kể chuyện, rõ ràng hiển hiện một sự yếu đuối tâm lý, khiến cho họ tìm đến chỗ dựa (tôn giáo) và thậm chí phó mặc "bản ngã" cho "Giáo chủ". Cả tác giả lẫn người trả lời phỏng vấn đều không ai nói tới cái sự yếu này, nhưng ...trộm nghĩ nếu có bản lĩnh thì sao mà phải lao vào bang hội bè đảng như thế, như thế... rồi răm rắp u mê nghe lệnh như thế như thế... Nhỉ??!
- Dịch (của Trần Đĩnh) có vấn đề. Những đoạn kể lể hôm ấy dậy thế nào lên tàu ra sao cái túi sarin rỉ nước cách bao xa thì chắc là trơn tru (chẳng lẽ lại không), nhưng đến đoạn cao siêu bác Murakami ra tay múa thử vài chiêu về tâm lý và tranh luận triết học với các bạn theo giáo phái Aum thì ngôn từ lúng túng lủng củng khó hiểu chứ không sáng rõ và trơn tuột đầy hình tượng như vẫn thấy trong tiểu thuyết của bác này. Chắc mình có tu cũng không đắc được đạo rồi :D

2. Thử vai (Ryu Murakami)
- Truyện này dựng thành phim là đúng rồi, vì rặt một kiểu lãng mạn-hình sự... Chợt nghĩ cũng hay ho, kiểu như chắc chắn những người thích Sidney Sheldon sẽ thích. Chưa được đọc quyển nào khác của bác này nhưng sẽ phải xem xét kỹ khi định mua một quyển nào khác ấy.

3. Đo thế giới (Daniel Kehlmann)
- Tuyệt cú. Thích cái cách kể chuyện và sử dụng nhân xưng và sự hóm của đồng chí. Hai cái ông trong truyện tự nhiên thành ra thú vị và mình thì vừa đọc vừa thích ra mặt. Cái ông ngồi nhà cũng biết không gian cong hơi hâm nhưng mà còn biết hưởng thụ mặc dù có nhảy ra khỏi giường tân hôn để ghi lại ý tưởng chợt lóe lên lóe lên, chứ cái ông bôn ba khắp nơi được coi là Colombus Đệ nhị mà không hiểu nổi thuật toán của ông ngồi nhà thì lại không biết hưởng... Thế hóa ra còn hâm hơn ông kia. Thích hai cái ông hâm này... Mà quên béng mất truyện kết thế nào. Cái gì quên thì chắc không nên nhớ.

4. Trông lên rất đẹp (Vương Sóc)
- Không đọc thì phí. Ông này cũng hay, viết lời tựa rất dài bảo bà con đừng tin cái gì mình viết, chẳng qua chỉ là thế giới (Trung Quốc tiền CM Văn hóa) qua lăng kính trẻ con (thằng cu Phương Thương Thương, từ lúc mới đẻ đến 8 tuổi). Thế nhưng mà càng đọc càng tin sái cổ (vì đúng quá) và cười sái quai hàm (vì ...buồn cười quá).
Cái thằng cu này nó cũng 2 trong 1, ấy là thằng Tôi và thằng Phương Thương Thương. 2 thằng đi mẫu giáo và thằng Tôi thì chỉ xuất hiện để dẫn dắt Phương Thương Thương tử tế và làm những trò vĩ đại, còn tội lỗi thì một mình Phương Thương THương bày trò. Ví dụ như trò bắt gián điệp là cô nuôi Lý. Chỉ có gián điệp mới mặt xấu và bắt nạt trẻ con như thế chứ. Còn tôi thì tưởng tượng ra một mình "gần như đánh hết mười mấy năm chiến trường gian khổ của quân giải phóng, tiêu diệt tất cả kẻ địch trong và ngoài nước mà tôi có thể nghĩ ra. Ngay sau đó là cảm nhận sự trống rỗng sau chiến thắng, cảm giác vô vị sau trận khải hoàn. Vinh hoa phú quý bất quá chỉ như sương khói vô định."
Các con bé thằng bé lớp nhỡ con nhà bộ đội lục quân ở nội trú còn đêm hôm mò dậy kể chuyện cho nhau nghe. "Bọn trẻ nghe qua lời kể câu được câu chăng, bớt trước thêm sau của Cao Dương, không ai nhận ra đồng chí Đường Tăng kì thực đang đi tìm chân lý, ông anh Tôn Ngộ Không chỉ là thằng đánh nhau trong đội ngũ cách mạng. Mọi người [bọn trẻ] đặc biệt có ý kiến đối với mấy vị lãnh đạo Phật Tổ Như Lai, Quan Âm Bồ Tát. Toàn đợi đến lúc Tôn Ngộ Không hết cách mới chịu đi cứu, bình thường cứ khoanh tay đứng ngoài vừa nhìn vừa cười. Đằng nào cấp trên cũng đã quyết đinh đi lấy kinh ở Tây Phương, mà các ngài cũng đã biểu quyết giơ tay rồi, sao không làm trận gió, thổi ông họ Đường một phát tới Tây Trúc mà còn bắt người ta cuốc bộ từng bước? Đồng chí Tôn Ngộ Không rất có năng lực, một mình hoàn toàn có thể thực hiện nhiệm vụ trên, tại sao không chịu tin tưởng giao phó, còn cử ra bao nhiêu yêu ma quỷ quái đánh người ta? Làm thế chẳng khiến mọi người hoài nghi về động cơ của Phật Tổ Như Lai: Kinh là của ông, người cũng do ông phái đi, tự phái người của mình đi lấy kinh của mình, rốt cuộc là ông định làm gì?"
- Bác Vương Sóc này thâm thật.
- Chuyển ngữ của Nguyễn Xuân Nhật quá ổn. Vô cùng yêu thích.

5. Sách của bạn tôi (Anatole France)
- Cụ Anatole France thì viết dễ thương là. Cụ viết về tuổi thơ: lãng mạn, trong vắt và đôi phần diêm dúa về mặt diễn đạt.
- Bạn NL đã kháo về trình dịch của cụ Hướng Minh nhưng xem ra ngôn từ của cụ không hợp goût với mình. Mình thấy cụ dùng từ cổ (à thì dĩ nhiên rồi) mà lủng củng ra phết, và đôi khi còn dấy lên mối nghi ngại. Có những chỗ cụ chơi khó thậm chí phải luận mãi mới à à ra thế. Cụ A.F còn là nhà thơ thì đáng lẽ văn bản phải ướt nhẹp chất thơ, nhưng không cảm được mấy qua bản dịch. Cái quyển tưởng xuất bản đã lâu hóa ra mới nộp lưu chiểu tháng 3 năm 2009.

Wednesday, July 15, 2009

Saturday, July 11, 2009

6th sense




Sản phẩm có thật do học viện Công nghệ Massachusetts MIT trình làng chứ không phải Minority Report của anh Tom Cruise. :D

Friday, July 10, 2009

Behind the Violence in Xinjiang

By NICHOLAS BEQUELIN
Published: July 9, 2009 in The New York Times

HONG KONG — The eruption of ethnic violence in China’s Xinjiang Uighur Autonomous Region, the most deadly recorded in decades, seems to have taken both Beijing and the world by surprise. It should not have.

The violence, coming on the heels of massive protests in Tibet less than 18 months ago, reflects the profound failure of Beijing’s policies toward national minorities, whose areas represent almost four-fifths of the country’s landmass but whose population makes up only 8 percent of China’s 1.3 billion people.

The Uighur people, much like the Tibetans, have a history, culture, religion and language distinct from the rest of China. Their homeland, the ring of oases that formed the backbone of the Silk Road in ancient times, was only incorporated into the Chinese empire in the 18th century.

And the effective colonization of Xinjiang only started after 1950s, when Beijing began to settle People’s Liberation Army soldiers who had put down the short-lived independent East Turkestan Republic (1944-1949) on military state farms. The proportion of Han Chinese in the population of Xinjiang leaped from 6 to 40 percent as a result of state-sponsored population transfers from other parts of China.

A second massive assimilation drive was initiated in the 1990s, prompted in part by the collapse of the Soviet Union in 1991 and Beijing’s fear of instability in the region. This time, instead of relying on forcible population transfers, Beijing created economic incentives to attract new Han settlers. In less than a decade, an ambitious program called the “Big Development of the Northwest” brought between one and two million new Chinese migrants to Xinjiang.

Economic development surged, spurred by a combination of massive subsidies, oil exploitation and rapid urbanization. But the Uighurs were not part of the rising tide. Resentment over job discrimination and loss of lands swelled, combined with anger at China’s religion policies and the stream of new settlers.

The government’s response was purely repressive. Already sharp limits on religious and cultural expression were further tightened. Any expression of dissent became synonymous with advocating “separatism” — a crime under Chinese law that can carry the death penalty.

Any sign of ethnic distinctiveness outside of the sanitized version promoted by the state was denounced as a plot by “separatist forces abroad.” After a failed uprising in the city of Yining in February 1997, the authorities launched a massive crackdown that led to tens of thousands of arrests and dozens of executions.

For most Uighurs, Xinjiang increasingly became a police state, where they lived in fear of arrest for the slightest sign of disloyalty toward Beijing.

Even prison officials started to complain to Beijing that prison and labor camps across the region had become jam-packed. Isolated acts of anti-state violence, such as the assassination of Uighur “collaborators,” attacks against police stations and the explosion of two bombs in Urumqi buses in February 1998 only reinforced the determination of the state to increase its repression.

After the Sept. 11 attacks in the U.S., the Chinese began to justify its campaigns in Xinjiang as a contribution to the global war on terror. China also used its growing international influence to secure cooperation from neighboring states to arrest and deport Uighurs who had fled persecution.

Although there is no dispute that clandestine Uighur groups have from time to time carried out violent attacks — most recently in a series of bombings and attacks on Chinese soldiers just before the Olympic Games — the massive propaganda offensive about the threat of “East Turkestan” terrorism drove Chinese public opinion toward an even more negative perception of the Uighur people, who in turn felt increasingly ostracized and discriminated against.

Beijing’s accelerated attempt over the past few years to forcibly refashion Uighur identity has also fueled growing resentment. Following Xinjiang Party Secretary Wang Lequan’s declaration in 2002 that the Uighur language was “out of step with the 21st century,” the government started to shift the entire education system to Mandarin, replacing Uighur teachers with newly arrived Han Chinese. The authorities also organized public burnings of Uighur books. Control over religion was extended last year to prohibit traditional customs such as religious weddings, burials or pilgrimages to the tombs of local saints.

Earlier this year, the government suddenly announced plans to raze the city of Kashgar, the centuries-old cultural center of the Uighur civilization and one of the only remaining examples of traditional central Asian architecture. In a few weeks, the old city will have almost entirely disappeared, forcing out 50,000 families to newly constructed, soulless modern buildings.

This is the backdrop against which Uighurs reacted to graphic images circulating on the Internet last week of Uighur workers being beaten to death by Chinese coworkers in a Guangdong factory. They took to the streets.

Unless the government addresses the root causes of ethnic tensions and ends its systemic human rights violations, the chances of more violence will remain high.

Nicholas Bequelin is a senior Asia researcher for Human Rights Watch.

Trăng trên thành cổ



Mượn bạn Youtube bài này buồn như chấu cắn, phần dịch lời sang tiếng Anh không biết của ai mà hay hay là.


Cherry blossoms gracefully bloom o'er the fields that lie,
High up is the castle wall, where have warriors gone?
Where is the moonlight that brightly shone up high,
Shone upon the warriors who drained the glasses dry?

White frost o'er the autumn camps freezing the whole night,
Flocks of wild geese cry and pass just below the moon.
Where is the moonlight that might have shone so bright,
Shone upon the warriors' swords gleaming through the night?

Oh, the moon is rising high in the depths of night,
Silent is the ruined site lying on the ground,
Ivies creep o'er the gate in the cold moonlight,
Rustling are the pine trees through the windy night.

To rise and fall is people's fate, the moon shines so bright,
Looking down upon the world lying far below,
How sublime the moonlight o'er the ruined site,
How I love the moon that shines in the depths of night!

荒城の月



春高楼の花の宴 

めぐる盃 影さして

千代の松ヶ枝わけいでし 

むかしの光今何処



秋陣営の霜の色

鳴きゆく雁の数みせて

植うるつるぎに照りそひし

昔のひかりいまいづこ



今荒城の夜半の月

変らぬ光誰がためぞ

垣に残るは唯かづら

松に歌ふはたゞ嵐



天上影はかはらねど

栄枯は移る世の姿

うつさんとてか今もなほ

ああ荒城の夜半の月

Karaoke tiếng Nhật :))

Haru koro no hana no en

Meguru sakazuki kage sashite

Chiyo no matsu ga e wake ideshi

Mukashi no hikari Ima izu ko



Aki jinei no schimo no iro

Nakiyuku kari no kazu misete

Uurutsurugi ni terisoishi

Mukashi no hikari ima izu ko



Ima kojo no yowa no tsuki

Kawaranu hikari ta ga tame zo

Kaki ni nokoru wa tada kazura

Matsu ni uto wa tada arashi



Tenjo kage wa kawaranedo

Eiko wa utsuru yo no sugata

Utsusan toteka ima mo nao
Ah!
Kojo no yowa no tsuki



Bye bye miss American pie




Thank you for sharing :)

Tuesday, July 7, 2009

Xứ sở của nước và thạch thùng (tiếp theo và hết)










(J. M. Maulpoix)

Annam, Annamite, Tonkin, Indochine, Cochinchine, Vietnam: xứ này có bao nhiêu cái tên tất cả? Nhắc lại điều Jean Tardieu đã quan sát về Tonkin: tính không phân biệt và “những chuyện đầu cua tai nheo bất tận”. Xứ này là thơ: tôi không ngừng lẫn lộn mọi thứ với nhau. Con thạch thùng này, ví dụ thế, thở ra một tiếng kêu như chim, đậu trên bức tường căn phòng trắng. Ô vuông cỏ này tôi không rõ là bãi cỏ hay đầm lầy. Và tất cả những người đạp xe-ma này nữa, một chiếc khăn che ngang mặt, hay những người phụ nữ vô hình chỉ để lộ ra đôi mắt huyền sau mặt nạ khăn trắng bảo vệ làn da trống lại mặt trời.

Phần lớn mặc áo vải chảy và quần lụng thụng, quá ít váy, qúa bất tiện khi đạp xe hoặc làm việc. Rất ít ngực, rất ít hông: bóng dáng họ khó phân biệt với bóng dáng đàn ông.

Bởi chẳng khi nào trắng hoàn hảo, nên những chiếc áo được điểm tô sọc nhỏ hoặc ca-rô nhẹ xanh nâu: vẫn là của đất những sắc màu, những đường nét khoác lên dân tộc này đến tận nội đô.

.....

Hình ảnh bí ẩn: những tạo vật này kết thúc ở một đỉnh. Những cái đầu có dáng chóp nhọn. Các cô gánh gồng, kéo những chiếc xe thồ hay đạp lóc cóc dưới mưa, cái chao đèn bằng rơm ấy, tôi không biết phải nói thế nào, cho họ cái vẻ trẻ thơ và như là hoa cỏ. Những bóng dáng gần như bí hiểm: bằng cả thân mình, vươn về phía trời hay trĩu xuống mặt đất. Ấy là ngôn ngữ là nhận dạng của cảnh sắc, là mái nhà và những chiếc chuông biết đi.

Tưởng tượng xem những chiếc mũ như thế trên đầu những tay thủ lĩnh khổng lồ Texas hay Kavkaz? Cảm động đến vậy chỉ có thể là cái cách chiếc nón điểm thêm vào tấm thân mảnh dẻ và ôm trọn gần như cả cổ và đôi bờ vai. Người phụ nữ quẩy quang gánh như một cánh cung với cái nón làm tên bắn.

.....

Mộ chí quây thành từng cụm giữa đồng. Người chết nuôi người sống; họ kia, rất gần, chăm chút cỏ mọc dầy, và tràn trề lúa gạo. Họ say giấc hay dùng bữa cùng người. Người dâng họ hàng tập tiền đỏ, những ngôi nhà bìa, những đôi dép giấy, cái máy nghe đài, cái vô tuyến giả, quạt mát, xe đạp hay xe máy, đồng hồ để xem giờ ở thời vĩnh cửu. Người chủ tâm làm ra một cõi hư ảo. Một thể thơ đỏ và vàng chôn chặt trong hòm gỗ lớn, cũng đỏ và vàng, nơi đón nhận di hài của họ. Người chết giống những bài thơ. Đời họ như là bằng giấy.

.....

Hãy tưởng tượng một thành phố được thiết lập như thế: hai hay ba hồ nước xanh, một nhà thờ lớn xám, mấy ngôi chùa vàng và tía, với một lượng phố xá thế này: phố khuy cúc, những chiếc khóa kéo và len hàng cuộn, phố ống xả và chụp trục bánh xe, phố đồ cúng người chết, phố dép, phố đồ chơi trẻ em và sách vở, phố khóa và chìa, phố gấu bông, mũ và nịt ngực, đại lộ quạt máy, phố tre trúc và thang, phố kẽm và sắt tây, phố điện, phố búa với liềm, phố đồng hồ thạch anh, phố complet veston, phố chẳng bắt đầu hay kết thúc ở đâu hết cả, phố ngang qua đời và hòa vào đó những người qua kẻ lại.

.....

Ở Văn Miếu, những con rùa chở trên mai nặng nề, trong vĩnh cửu, những tấm bia Tiến sỹ thuộc nằm lòng biên niên ký những xuân lại đến thu.

Một người phụ nữ chơi nhạc, vỗ tay trước một dàn sáo lớn kiểu đàn phiến gỗ, ghép bằng thân sậy. Một phụ nữ khác hòa tiếng gõ phách lên đầu con ếch gỗ bằng một cái que.

Có thể ngạc nhiên lớn nhất đợi chờ người lữ hành là đây: những hình ảnh không phải vậy, và sự thực có vẻ tưởng tượng. Ảo ảnh du lịch hiện ra rồi biến mất quá nhanh, bị cái nhầm lẫn và cái mới quyến rũ, mà không được biết tới sức nặng của chiếc xe thồ, của cái cày hay đòn gánh, cũng như không được biết tới cái mềm mại hay độ dài của giấc ngủ say, mệt lử đử bên vệ đường, gần đống dưa hấu hay đu đủ.

Chuyến đi xa cho ta tưởng tượng về những bản sắc khác và những quen biết khác. Nhịp điệu khác. Cách yêu và được yêu khác. Nó cho ta hy vọng về những cơ may. Nó muốn tin vào những chân trời: những cuộc đời mơ mộng, những cuộc đời mở rộng.